MẠC THÁI TỔ & THÁI HOÀNG THÁI HẬU HỌ VŨ
TRUYỀN THUYẾT VỀ MẠC THÁI TỔ & THÁI HOÀNG THÁI HẬU HỌ VŨ
Một số tư liệu về làng Trà Phương liên quan đến nhà Mạc
Trên núi Trà Phương nhìn về phương Nam thấy thật tuyệt vời biển, núi, sông, đồng ruộng và những khu dân cư trù phú, xa xanh là dãy núi đảo Cát Bà và biển Đông dạt dào sóng vỗ, gần là dãy núi Đồ Sơn. Ta có thể tự đo tầm mắt thấy giữa núi Trà Phương và dãy núi Đồ Sơn là Tổng Cổ Trai nơi sinh Hoàng Đế Mạc Đăng Dung, người đã xây dựng một triều đại đầy tranh cãi của lịch sử, nhưng những vật thể và phi vật thể cho ta thấy tầm vóc huy hoàng của triều đại này. Đặc biệt trong việc tổ chức lễ trọng 468 năm ngày kỵ của Mạc Thái Tổ 23/8 năm Kỷ Sửu tại Cổ Trai ta càng thấy hiển hiện sự hùng mạnh của hậu duệ Hoàng Đế Mạc Đăng Dung.
Giờ Thìn, ngày 5 Tết, năm Bính Tuất tôi và con trai Nguyễn Công Khanh lên núi Trà Phương, đây là ngọn đồi, cùng với đồi Đối cách đó khoảng 1km đường chim bay về phía Đông Bắc là vệt kéo dài của rặng núi Phù Liễn xuống quần đảo Đồ Sơn(xưa) thấy cảnh quê tôi đẹp và nên thơ vô cùng. Trên giữa ngọn đồi thân yêu, tôi nói với con: Tạo hoá thật tuyệt, đồi này cũng thể hiện tính Âm Dương, Ngũ hành, phía Tây thuộc Kim ngay chân đồi bị người tàn phá nên dốc đứng, cây mọc yếu, phía Đông thuộc Mộc, phía Bắc thuộc Thuỷ nên cây xanh tốt, phía Nam thuộc Hoả nên trơ cằn sỏi đá.
Làng Trà Phương xưa phía Đông là núi Trà. Phía Tây nhìn ra dòng sông từ Tiên Cầm chảy xuống Cổ Trai đổ ra Đồ Sơn. Phía Bắc là sông nhỏ chảy sát núi Trà đổ về Cổ Trai. Phía Nam nối với làng Quế có thể liền với làng Cổ. Nếu lấy núi Trà làm trung tâm thì phía Đông là núi Đối và sông Đa Độ. Phía Tây là đầm chùa vết tích của nhánh sông Văn Úc, PhíaNamlà làng Cổ Trai, dãy núi Đồ sơn. Phía Bắc là dãy núi Phù Liễn như đàn ngựa đang mải miết phi về phươngNam. Phong thuỷ làng Trà nếu lấy trục Đông Tây mà xem thì: hậu là núi Trà là núi Đối và sông Đa Độ, tiền là sông Văn úc, tả Thanh Long là dãy núi Đồ Sơn dài như rồng bay ra biển cả, hữu là dãy núi Kiến An như Bạch Hổ vậy.
Làng ta đâu là trung tâm, phải có những nhà phong thuû thâm hậu mới biết được?
Làng Trà Phương cổ tên là Trà Hương năm 1813 nhà Nguyễn cho là phạm húy đổi thành Trà Phương. Trà Hương dịch theo tiếng Hán là: hương trà thơm, xưa hay lấy địa danh theo một vật thể điển hình ở vùng đó, có thể núi Chè ngày xưa có loại chè ngon mọc tự nhiên chăng nên gọi là Trà Hương?
Làng Trà nằm trên vùng đất Dương Kinh xưa, nơi sinh của Thái Hoàng Thái Hậu đầu triều nhà Mạc, Người đã góp phần đưa chàng dân chài Mạc Đăng Dung từ đất Cổ Trai tiến lên Thăng Long lập nên nghiệp Đế. Trong không gian Bắc Việt còn ghi lại một phần công lao của Mạc Thái Tổ và Thái Hoàng Thái Hậu thể hiện trong ký ức của dân, tại các công trình kiến trúc, đặc biệt là tại đình làng Trà Phương, xã Thụy Hương, Kiến Thụy Hải Phòng có tượng Mạc Thái Tổ và Thái Hoàng Thái Hậu tạo bằng đá xanh, đáng tiếc đình đã bị phá vào những năm 60 của thế kỷ XX.
Trên không ảnh ta nhấy phong thủy làng Trà rất đẹp, nếu theo trục Đông – Tây, đầm Phủ là Chu Tước. Nhưng theo thuyết phong thuỷ của Dương Quân Tùng thì lại rất xấu với những công trình cửa quay hướng Tây, nếu khởi công vào ngày sát chủ- không vong.
Bốn phương Trời – Đất:
Phía Đông là núi Trà Phương Núi Trà Phương xưa gọi là núi Trà Sơn thuộc địa phận thôn Trà Phương, tọa độ 20 0, 44’, 20”B; 106 0, 39’, 30” Đ, cao 52 m, sách “ĐạiNamnhất thống chí” viết: núi này cách huyện Nghi Dương, phủ Kiến Thụy, tỉnh Hải Dương 7 dặm về phía Tây. Sách “Hải Dương toàn hạt dư địa chí” cho biết núi Trà Sơn, tại xã Trà Sơn, tổng Trà Hương, huyện Nghi Dương, phủ Kiến Thụy, tỉnh Hải Dương, cao 30 trượng, rộng khoảng 1000 mẫu. Chân núi có đền Linh Quy (Rùa Thiêng), trong sân đền có một khối đá thiêng hình Rùa nổi lên, bên cạnh có giếng rất ngon. Trong vùng đầm ao, sản nhiều rùa, dân không dám bắt, không cho mang ra khỏi làng; dân quanh vùng cũng thờ thần Linh Quy.
Nhiều di tích xung quanh núi Trà là phế tích nay một số được phục dựng như: chùa Vĩnh Khánh, Chùa Linh Sơn, nhưng miếu Đại Vương Linh Quy ở phía Tây Bắc làng Trà là ch¬ưa được phục dựng. Miếu này nằm ở gần ao Hang (hiện nay ao vẫn còn) cửa miếu hướng Tây Bắc, tuy diện tích và kiến trúc không lớn nhưng rất linh thiêng, được dựng khi con người đến cư trú ở vùng này. Xưa cây các loại mọc um tùm bốn mùa tươi tốt, chim chóc bốn mùa ca hát, dưới nước vô cùng nhiều thuỷ sản và Rùa sống ở ao Hang và toàn lãnh thổ Trà Phương, làm chốn này như bồng lai tiên cảnh, sau miếu đổ, người phá thì Rùa cũng dần biến mất. Có nhiều câu chuyện về sự báo ứng với những người do vô tình hay cố ý xâm phạm vào miếu, đến nay vẫn còn được nhắc nhở. Vào những năm 90 thế kỷ trước, Quân đội muốn làm đường qua miếu nhưng khi san gần đến cửa miếu thì máy xúc bị hỏng, chữa, rồi lại hỏng, họ phải thắp hương xin thần Linh Quy mới kéo máy xúc ra ngoài. Nay dù miếu đổ nhưng cây vẫn mọc xanh tốt hơn những khu liền kề che mát khối đá thiêng hình ông Rùa, chim chóc vẫn sáng chiều ca hát cho Đại Vương Linh Quy suy ngẫm sự đời.
Núi Trà còn nhiều di tích đã đi vào huyền thoại, như hang Chúa Thao, bà Chúa Phấn …Hai cây quéo ở hai đầu núi phía Namgần khu nhà ông Thuỵ, hai cây quéo ở phía Bắc ở khu giếng Đối đều cao hàng chục mét, gốc to đến vài người ôm, sự chết của 4 cây này gắn với với huyền thoại về người Tầu giấu vàng và lấy đi vào cuối thế kỷ XX.
Xưa trên núi Trà nhìn về phía Tây, trên cánh đồng Hương thấy ruộng tạo nêm hình cái gương, cái lược, diện tích mỗi cái khoảng 2 sào, trước CCRĐ ông Khôn trưởng tộc Ngô Duy cấy lúa, trồng khoai đều ngon hơn những thửa ruộng bên, đặc biệt khoai lang vỏ màu trắng gọi là khoai chuột lột to như nắm dao ăn bở thơm ngon như bánh khảo. Cổ nhân truyền rằng cái gương, cái lược là biểu tượng của Thái Hoàng Thái Hậu.
Khoảng những năm đầu thế kỷ XXI người canh tác mới đã xoá mất hai biểu tượng này.
Phía Bắc: Có đình Phúc cửa quay hướng T©y, hậu cung dựa vào mả Vối, khuôn viên 60* 60 m kiến trúc đang được sưu tầm vì đình bị phá vào những năm 50 thế kỷ XX, cách vài trăm mét là mả Vối nhìn từ trên cao đẹp như con ngựa nằm nghiêng đầu quay về núi, chân hướng về Văn Hòa, lưng hướng về xóm Trong, những năm 60 thế kỷ XX hài cốt táng ở mả Đò được dồn về đây để khu ấy làm trận địa tên lửa. Mả Vối nay các lăng mộ đang được xây dựng như thành phố dành cho người đã khuất.
Phía Tây Bắc: có chùa Thiên Phúc, diện tích khoảng 6 mẫu, sử Việt có ghi tại Trà Hương có chùa của ng¬ười Chăm bị nhà Lý bắt làm tù binh buộc ở vùng này dựng nên, sau người Chăm bỏ về Nam nơi thờ bỏ hoang người Việt gọi là chùa Bà Đanh nay con dấu tích tại khu mả Đò, ven dòng sông cũ lối sang làng Du Lễ. Theo văn bia dựng năm Thuần Phúc sơ niên 1565 có thể là năm Thái Hoàng Thái Hậu họ Vũ người làng Trà, cùng 22 thân vương nhà Mạc hưng công xây chùa tại địa điểm hiện nay. Nay đổi tên là Thiên Phúc tự, chùa có nhiều hiện vật, tuợng Phật được tạc khắc rất tinh xảo mang nét văn hoá thời Mạc, thời Nguyễn, đặc biệt có tượng đá xanh Hoàng đế Mạc Đăng Dung và Thái Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toản nay thờ ở bên phải, bên trái thờ Tam toà Thánh Mẫu. Phía Đông là nơi thờ tổ trong đó có thờ một vị quan nhà Mạc là Mạc Chúc Hiên và một người Pháp đã có công quản lý, xây, sửa chùa. Cửa chùa là bến cho thuyền các nơi về buôn bán, tháng Dậu hàng năm là nơi hát đúm, hội chùa Trà, nay bị bồi thành đầm cấy lúa hai mùa. Hướng Tây xưa là sông tuyến vận chuyển muối lên Thăng Long, nơi xẩy ra nhiều trận thuỷ chiến giữa người Nam và phong kiến phương Bắc, giữa nghĩa quân Nguyễn Hữu Cầu, Phan Bá Vành và nhà nước phong kiến nước Nam. Bên bờ phía Nam là Mả Đò, bờ phía Bắc là phủ Kiến Thụy. Bờ phía Đông có mộ tiền nhân Ngô Duy Nhất cao khoảng 2m, đường kính khoảng 6 m, nằm khoảng giữa đình và chùa, ngài là hậu duệ đời thứ 2, tổ ngành thứ II của họ Ngô Duy, cuối thế kỷ XIX có hậu duệ là chánh Linh nổi tiếng giàu có và thế lực trong vùng, nay còn ngôi nhà thờ lớn ở giữa làng có bức Đại tự to, đẹp nhất làng.
Phía Tây Nam: có đình Cả, nền đình cao hơn xung quanh khoảng 1,5 m, rộng khoảng 6 mẫu, được dựng vào thời Lý, sưả vào thời Mạc, thờ ba thành hoàng là: Thiên thần Vọng Hào (nên làng tôi kiêng húy gọi tiền hào là hầu và các chữ có liên quan đến từ hào đều được đọc trại đi), Hoàng Đế Mạc Đăng Dung vµ Hoàng Thái Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toản.
Đình Tân ở gần đình Cả, bên bờ đầm có cây Đề gốc to đến mấy người ôm, ngọn cao vài chục mét nơi bốn mùa chim từ khắp phương trời về đây sinh sống và ca hát cho dân làng hóng mát dưới bóng cây, lấy nhựa dính chuồn chuồn để bẫy chim bẻo, vỏ nhuộn áo quần, tất cả đều bị phá khoảng những năm 60 của thế kỷ XX. Dưới gốc cây Đề là bến đò vượt sông cổ sang trang Du Lễ, trang có nhiều người đỗ đạt về văn võ, có hai đền thờ quan võ là Trương Nữu và Vũ Hải đã lập nhiều chiến công trong sự nghiệp chống xâm lược phương Bắc.
Phía Tây Bắc: có phủ Kiến Thuỵ được người Pháp xây dựng đầu thế kỷ XX, hình vuông 300 X 300 m, cửa phủ mở hướng Nam, xây dựng theo quy hoặch thị trấn có bưu điện, chợ… . có đường đi ven đầm ra chùa Mục đồng sang làng Phương Đôi để đi đò Vọ, đi ngược lại là đường qua cửa Chùa đi Kiến An, được giải đá cấp phối khi phủ Kiến xây xong. Phía Bắc, Đông, Tây phủ đắp thành cao khoảng 5m, bề mặt rộng khoảng 10m, phía ngoài trồng tre gai, tiếp đến là hào sâu, phía Đông còn có hào ngoại nay là đường sang Phương Đôi. Chợ Phủ giáp chùa xưa là nơi buôn bán sầm uất hàng huyện.
Dân cư
Nay Trà Phương nay chia làm 5 xóm, con số này có nói nên điều gì không? xóm Núi giáp núi Trà, xóm Trên ở phía Đông xóm có mặt bằng cao hơn cả là khu cư trú của họ Nguyễn Công, họ Vũ, xóm Dưới là nơi cư trú của họ Ngô và họ Nguyễn Công, xóm Ngoài mặt bằng thấp hơn hai xóm trên nơi cư trú của họ Ngô Trọng, Nguyễn Đình, Nguyễn Phú, Đặng, Vũ Văn…, xóm Chợ sau năm 1945 phủ chuyển đi, dân các họ chuyển ra.
Theo gia phả các họ ở làng thì họ thiên di đến sớm nhất không quá 250 năm? có thể dân bản địa phải thiên di theo nhà Mạc sau năm 1592, dân mới đến chắc lại phải thiên di trước 1802 khi Gia Long lên ngôi có phải dân ở đây liên quan đến nhà Tây Sơn? Thời chiến tranh với Pháp, Mỹ làng Trà là nơi các sắc lính Bộ binh, Phòng không, Lính thuỷ đánh bộ quân đội của ta, Pháp th¬ường xuyên đến đóng quân, nhiều quan, lính lấy vợ ở lại nên thành nhiều họ mới. Dân số khoảng ? tuyệt đại đa số là người Kinh. Từ xưa đến nay danh tiếng người làng Trà vượt qua lũy tre làng lại là nữ nhân: Thái Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toản, Người mua ruộng của nhà nước cho dân quê hương sử dụng không phải nộp thuế gồm: 2 mẫu 5 sào trước cửa chùa Hoà Liễu, là bến đỗ thuyền của Người, theo thuyền Người về thăm làng Trà quê nội, xuôi về quê chồng Cổ Trai, trên dòng ấy dài khoảng 10 km rộng khoảng 20 m và 3 mẫu ở bến thuyền chùa Ngọc là đất dân làng Trà được cấy lúa, thu hoặch để làm quỹ phúc lợi. Dân gọi là ruộng dải Yếm Bà Chúa từ “Thượng chí Tiên Cầm hạ chí Kỳ Sơn”. Dòng ấy bao giờ cũng sâu hơn hai bên vài chục cm, lúa trên dòng ấy bao giờ cũng xanh tốt, đặc biệt gạo ăn thơm ngon hơn gạo ruộng bên cạnh. Sau năm 1592 nhà Lê – Trịnh thắng nhà Mạc, vì tính tiểu nhân họ đã đưa hơn 1000 quân về Dương Kinh trong 100 ngày tàn phá hết công trình kiến trúc của triều Mạc, thu ruộng dải Yếm Bà Chúa của làng Trà cho các làng lân cận cấy và bao nhiêu ruộng của Người cho làng Trà bị nhà Lê – Trịnh thu nay chưa biết được.
Đầu thế kỷ XIX nhà Nguyễn nắm quyền, Ngô Duy Nhất người làng Trà, được bố vợ chánh tổng Nguyễn Công Hậu giúp nên có thời làm quan trong triều nhà Nguyễn đã kiện lên vua Nguyễn về sự nhà Lê -Trịnh thu ruộng “dải Yếm Bà Chúa” của làng Trà. Sau nhiều năm tranh tụng nhà Nguyễn đã xử cho dân làng Trà được sử dụng ruộng dải Yếm Bà Chúa như thời nhà Mạc. Dân làng Trà trả ơn bằng cho gia đình chánh tổng Ngô Duy Nhất được sử dụng vĩnh viễn 3 mẫu ruộng ở làng Kỳ Sơn, còn diện tích 2 mẫu 5 sào cửa chùa Hoà Liễu và ruộng dải Yếm Bà Chúa dân làng sử dụng như lệ thời nhà Mạc. Bây giờ dòng ấy đã bồi, chính thể mới cắt đất cho các làng bên sử dụng.
Tại thôn Hòa Liễu có chùa Thiên Phúc do Thái Hoàng Thái Hậu xây và miếu thờ Thái Hoàng Thái Hậu người con của làng Trà. Đây là di chỉ nhà Mạc với những tượng Phật bằng đá, đặc biệt tượng Thái Hoàng Thái Hậu ở miếu lại được tạc vào phần nổi của một phiến đá cao khoảng 3 m, còn một phần chôn xuống đất, xung quanh là giếng nước. Bia đền thờ Người khắc “ngày 18 tháng 4, năm Tân Dậu (1561) đời Mạc Phúc nguyên năm thứ 9″ ghi: Người và các quan, tướng, thân vương nhà Mạc mua 25 mẫu, 8 sào, 2 thước cúng vào tam bảo, cho dân Hòa Liễu thụ hưởng, trên bia đá còn ghi việc sử dụng, Có lẽ sau nhiều thời gian số vật chất được tích lũy lớn, dân làng Liễu nhớ công ơn đã lập miếu bên cạnh chùa tạc tượng thờ Người cùng với nhiều đồ thờ được sơn son thếp vàng. Ngoài ra Ngưòi còn hưng công xây, sửa 16 chùa ở Bắc bộ( 1) người được dân gian tôn là “ Mẫu nghi thiên hạ – là Phật sống trên trần gian”
Thế kỷ XX có bà Ngô Thị Dĩnh (? – 1963) hậu duệ cụ Ngô Duy Nhất lấy chồng ng¬ười Pháp tên Việt là Nguyễn Di Đăng làm Giám đốc Đài thiên văn Phù Liễn, Kiến An, năm 1936 – 1938 đã sửa chùa Thiên Phúc, dựng chợ Phủ, năm 1945 dân làng đói bà đem tiền, gạo về phát chẩn. Ôi !buồn thay đào hoa bạc mệnh, về già bà sống cô quả, lúc thác các cháu không quan tâm đến nay không rõ mả ở đâu? Đây có phải là phép thử lòng người trước bạc tiền và nhân nghĩa chăng?
Ta có thể ngược dòng lịch sử thấy cách đây khoảng 200 năm làng ta dân số có thể không quá 600 người? theo gia phả các họ ta thấy các đời suất đinh mỗi họ không quá 20 mà dựng lên ba đình: Cả, Tân, Phúc. Từ lâu người làng ta không có người thành đạt về Văn, Võ đến hoạt động kinh doanh…vì sao? Câu hỏi này dành cho tất cả chúng ta cùng giải đáp.
Những di vật cổ ở làng Trà:
Việc con người và thời gian phá hủy các công trình mang tính tâm linh chúng ta đã chứng kiến, Miếu thờ Đại Vương Linh Quy bị Tây bắn sập những người dỡ lấy vật liệu, hậu duệ bị bệnh không bình thường và chết bí hiểm? Ta nên đặt hiện tượng này ra khỏi vòng mê tín dị đoan mà xét.
Sau năm 1592 nhà Lê – Trịnh đã đưa hơn 1000 quân trong 100 ngày tàn phá hết công trình kiến trúc của triều Mạc ở Dương Kinh trong đó làng Trà. Cách đây khoảng 20 năm tôi được một người ở Hà Tây cho xem bản đồ về đất Dương Kinh, trong đó có làng ta. Lúc ấy thật vô tâm nay nghĩ lại so vói những tài liệu thu được qua nghe lại các vị cao niên ở làng thấy có nhiều điều đúng với bản đồ ấy, đó là các di tích, danh nhân lịch sử của làng:
1/ Miếu Đại Vương Linh Quy.
2/ Thái Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toản là Thái Hoàng Thái Hậu đầu triều Mạc, những giai thoại về “Cổ trai Đế Vương Trà Phương Công Chúa”
Những di vật trong lòng đất:
Năm 1897 người họ Ngô Duy đào được một hòm vàng ở sân đình Cả.
Năm 1938 khi táng người mất tại khu ®èng Vu«ng gần bÕn ®ß sang Tó §«i đào được một mũ cánh chuồn có nhiều chi tiết bằng vàng.
Năm 1974 tại gốc cây đề khu đình Cả đào được 120 thỏi bạc. Gia đình ông Tống đào đựơc rất nhiều bạc nén, cổ vật, gạch vồ thời Mạc…
Vào những năm 2000 tại khu vực ông Lô đang ở đào được 1 lọ đựng một khối bạc cao 25cm đường kính 12 cm, ông Đạo đào được 10 chĩnh, mỗi chĩnh chứa 58 kg tiền cổ. Trước đó họ Ngô Trọng sửa mộ cũng đào được 4 chĩnh, mỗi chĩnh chứa 58 kg tiền cổ.
Năm 2010 ông Lô khi sửa miếu đào được một chĩnh chứa đầy tiền cổ…
Năm 2011 ông Tuấn mò ở ao Đình thấy một pho tượng đạo sĩ và một bát hương cổ bằng đất nung hình dạng rất khác so với vật cùng công nang hiện nay, còn nhiều cổ vật chưa được dân làng công bố?
Độ sâu khoảng 1m ông Lô đào thấy những đá tảng đường kính 56 cm, nhiều con giống có hoa văn giống như đào thấy ở hoàng thành Thăng Long.
Nơi có nhiều tiền, bạc, dấu tích của kiến trúc cung đình, cùng với dòng kênh sâu khoảng 2m rộng hơn 10m, dài hơn 200m bao quanh khu này.
Có phải nơi đây là dinh thự của gia đình Thái Hoàng Thái Hậu ở đã bị nhà Lê – Trịnh sau năm 1592 tàn phá và triệt mạch theo lịch sử ghi lại?
Thông tin trên bản đồ cho biết một số ao, vườn hoang… nhà Mạc có chôn cất của cải trước năm 1592 để rút lên Cao Bằng. Đặc biệt nói về giếng cổ ở phía Đông Bắc đình Cả, ông Tống xác nhận đã gặp khi đào đất ở đó ở độ sâu khoảng 1m, giếng được ghép bằng gạch vồ đường kính 1,5 m, sâu còn 2m đáy ghép bằng hai viên gạch nung 70 x 50 x 15 cm . Ông Khanh, ông Tuất xác nhận có thấy 1 tấm bia ở long tát nước cạnh ao đình Cả …
Do vậy với những di vật trong lòng đất làng ta và lòng yêu quê hương
Tôi đề nghị chính quyền địa phương cùng phối hợp với dân tìm và khai quật bia, giếng cổ và khảo cứu một số di vật trên để thêm vật chứng để Hội đồng Mạc tộc ViệtNam có cơ sở đề xuất với các cơ quan nhà nước tổ
chức hội thảo về dấu tích liên quan đến nhà Mạc. Nhằm mục đích phục dựng các di tích liên quan đến nhà Mạc một cách bài bản và xứng tầm của nó.
Tôi mong Hội đồng Mạc tộc Việt nam hãy quan đến vùng đất Tổ ngoại của Vương triều Mạc làm cho nó xứng danh với “Cổ Trai Đế Vương”?
Văn tế đình Cả và việc phục dựng đình
Bài văn tế đình Cả có trước 1945 và Khảo cứu địa danh của nhà Nguyễn năm 1938, Tôi khẳng định: “Đình Trà Phương một công trình văn hóa thời nhà Mạc nơi thờ phụng ba thành hoàng làng là: Thiên thần Vọng Hào, Thái Thượng Hoàng Mạc Đăng Dung và Thái Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toản, còn tế các linh vị: Đại Vương Linh Quy, ông bà nội, ngoại, cha mẹ của Thái Hoàng Thái Hậu, các tướng, thân vương nhà Mạc, linh vị của các họ trong làng. Đây là công trình văn hóa tâm linh thờ Thiên Thần, Vua và Hoàng Hậu, khác hẳn với đình làng ở quanh vùng chỉ thờ nhân thần hoặc vật thần. Đình xưa vị trí địa linh đã tồn tại hơn nghìn năm, Đình ngày nay làng dựng lại theo kiến trúc xưa, nhưng công năng của đình chúng ta cần nhận thức mới là: nơi thờ Thành Hoàng trong hậu cung, còn phía trước có thể sử dụng cho văn phòng của trường học, cho việc công của làng, xã. Đâu cần phải di chuyển trường vì trường học mới là việc công lớn trồng người, có đình sẽ nâng cao dân khí, dân trí Được vậy sẽ phát huy hiệu quả cao nhất công năng của đình, tiết kiệm được quỹ đất đang ngày càng bị thu hẹp liệu có hay không?
Việc phục dựng đình phải dựa trên cơ sở khoa học, vị trí vào nơi linh địa, hướng cửa và số đo ra sao, quy mô, đình xưa kiến trúc như thế nào? Phải có sự tham gia của các nhà sử học, kiến trúc sư, của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, được sự đồng thuận cao của dân làng, lập DA theo quy định, đặc biệt là phải có sự tham gia của Hội đồng Mạc tộc ViệtNamvì đây là nơi thờ phụng Mạc Thái Tổ và Thái Hoàng Thái Hậu
đầu triều Mạc thì mới hội tụ được chất xám… và tài chính để dựng đình.
Nếu huy động được một số tiền rồi xây móng, tạo tiền đề “ có thực sẽ vực được đạo” rồi tiếp tục quyên góp, e rằng đình sẽ ra sao? Chúng ta không thể nóng vội, vì đây là công trình văn hóa để đời, tạo không hơn
đình xưa, lại vào nơi không linh địa có thể đem lại những điều không lành cho dân làng? Cho nên chọn nơi dựng đình và hướng đình là tối quan trọng không thể làm bừa theo ý một số người, mà phải có cơ sở khoa học, tụ được linh khí, thì mới thu phục được nhân tâm. Nếu không mọi việc đều ngược lại?
Tôi xin hiến kế với chi bộ Đảng và làng v/v phục dựng đình và di tích lịch sử:
1- Chi bộ Đảng phải nắm vai trò lãnh đạo, tiền fong gương mẫu. Củng cố ngay các tổ chức xã hội, đặc biệt người đứng đầu các tổ chức phải có Tâm, có năng lực uy tín với dân làng, quan hệ mật thiết với HĐ Mạc Tộc VN, trong việc vận động nhân dân cung cấp những tài liệu, cổ vật liên quan đến nhà Mạc để có cơ sở các cơ quan chức năng hội thảo, khai quật các di chỉ,tiến tới phục dựng đình làng và các di tích lịch sử.
2 – Mọi người dân phải được bàn dân chủ, thống nhất ý trí, tạo nên khí thế và phong trào đóng góp trí tuệ và tài chính vào quỹ: “DA phục dựng đình làng Trà” không những ở làng mà còn ở bà con xa quê và Mạc Tộc VN.
3 – Khi lập được quỹ “DA phục dựng đình làng Trà”, phải mở tài khoản và thu chi theo quy định của pháp luật và minh bạch trước dân làng.
4/ Cùng với HĐ Mạc Tộc VN lập “ Ban QLDA phục dựng đình làng Trà” trình nhà nước duyệt.
Khi có DA các chi bộ cử ĐV trung thực tham gia Ban QLDA. Chỉ như vậy việc xây đình mới đạt được tiêu chí: Kiến trúc to đẹp, tiền nhân có nơi thờ phụng xứng danh, làm cho linh khí làng Trà ngày càng mạnh lên,
phù hộ cho hậu thế làng Trà phát triển sánh vai cùng thiên hạ.
Kính mong các quý vị tham khảo và bổ xung tài liệu để bài viết được tốt hơn. Trân trọng cám ơn, gửi đến lời chúc Phúc đến mọi người !
Trà Phương ngày 28/2/2011
Bài này được đăng trên Nuitraphuong.Blog. Nguyễn Công Kha, tháng 2/2011
1- PGS TS Đinh Khắc Thuần – Văn bia thời Mạc, Nhà xuất bản Hải Phòng, trang 48.
Điền địa thời Nhà Mạc và ruộng dải Yếm Bà Chúa làng Trà Phương
Tháng Mười Một năm Canh Dần bởi Nuitraphuong. Blog – Nguyen Cong Kha
Điền địa thời Nhà Mạc và ruộng dải Yếm Bà Chúa làng Trà Phương. Trước năm 1592 dân làng Trà lại được ân hưởng của Thái Hoàng Thái Hậu về đất đai, Người mua ruộng của nhà nước cho dân quê hương sử dụng không phải nộp thuế gồm: 2 mẫu 5 sào trước cửa chùa Hoà Liễu là bến đỗ thuyền của Người, theo thuyền Người về thăm Trà Phương quê nội, xuôi về quê chồng Cổ Trai, trên dòng ấy dài khoảng 10 km rộng khoảng 20 m và 3 mẫu ở bến thuyền Kỳ Sơn là đất dân làng Trà, diện tích ấy được cấy lúa, thu hoặch để làm quỹ phúc lợi. Dân gọi là ruộng dải Yếm Bà Chúa kéo từ “Thượng chí Tiên Cầm hạ chí Kỳ Sơn”. Dòng ấy bao giờ cũng sâu hơn hai bên vài chục cm, lúa cấy trên dòng ấy bao giờ cũng xanh tốt, đặc biệt gạo ăn thơm ngon hơn gạo ruộng cấy bên cạnh. Sau năm 1592 nhà Lê – Trịnh thắng nhà Mạc, vì tính tiểu nhân họ đã đưa hơn 1000 quân về Dương Kinh trong 100 ngày tàn phá hết công trình của triều Mạc, đồng thời họ đã thu ruộng dải Yếm Bà Chúa của làng Trà cho các làng lân cận cấy và bao nhiêu ruộng của Người cho làng Trà bị nhà Lê – Trịnh thu nay chưa biết được?
Khi nhà Nguyễn nắm quyền, Ngô Duy Nhất người làng Trà, được bố vợ chánh tổng Nguyễn Công Hậu giúp cho học đã thi đỗ, được làm quan trong triều nhà Nguyễn đã kiện lên vua Nguyễn về sự nhà Lê -Trịnh thu ruộng “dải Yếm Bà Chúa” của làng Trà. Sau nhiều năm tranh tụng nhà Nguyễn đã xử cho dân làng Trà được sử dụng ruộng dải Yếm Bà Chúa như thời nhà Mạc. Dân làng Trà trả ơn bằng cho gia đình ngài được sử dụng vĩnh viễn 3 mẫu ruộng ở làng Kỳ Sơn, còn diện tích 2 mẫu 5 sào cửa chùa Hoà Liễu và dòng dải Yếm Bà Chúa dân làng sử dụng như lệ thời nhà Mạc. Bây giờ dòng ấy đã bồi, chính thể mới cắt đất cho các làng bên sử dụng. Vào cuối thế kỷ XX dân làng Trà đều xác nhận đó là sự thật.
Thôn Hòa Liễu có chùa Thiên Phúc và miếu thờ Thái Hoàng Thái Hậu người con của làng Trà. Đây là di chỉ nhà Mạc với những tượng Phật bằng đá, đặc biệt tượng Thái Hoàng Thái Hậu ở miếu lại được tạc vào phần nổi của một phiến đá cao khoảng 3 m, còn một phần chôn xuống đất, xung quanh là giếng nước. Đây có thể là nơi Người tu theo đạo Phật. Bia còn tại đền thờ Người khắc “ngày 18 tháng 4, năm Tân Dậu (1561) đời Mạc Phúc nguyên năm thứ 9″ ghi: Người và các quan, tướng, thân vương nhà Mạc mua 25 mẫu, 8 sào, 2 thước cúng vào tam bảo, cho dân Hòa Liễu thụ hưởng, trên bia đá còn ghi việc sử dụng: 12 người làng Liễu cao tuổi nhất mỗi người được cấy 2 sào để lo việc hương đăng 24 tiết tại chùa và đền, 3 mẫu dành cho người phải đi lính khi nào giải ngũ thì trả lại ruộng làng, 1 mẫu 4 sào thủ đình cấy, 2 mẫu 5 sào dân làng Trà hưởng, còn lại phát canh thu hoa lợi làm quỹ của làng. Có lẽ sau nhiều thời gian số vật chất được tích lũy lớn, dân làng Liễu nhớ công ơn đã lập miếu bên cạnh chùa tạc tượng thờ Người cùng với nhiều đồ thờ được sơn son thếp vàng. Việc tậu ruộng, sử dụng hoa lợi cho công ích của Thái Hoàng Thái Hậu là vấn đề cần được nghiên cứu của các nhà sử học chân chính.
Tháng Mười Một 28, 2010 bởi nuitraphuong
Thái Hoàng Thái Hậu nhà Mạc Vũ Thị Ngọc Toàn
(3/20/2010 10:46:26 PM)
Thái Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toàn người làng Trà Hương huyện Nghi Dương xứ Hải Dương, nay là thôn Trà Phương, xã Thuỵ Hương, huyên Kiến Thụy Hải Phòng. Trước khi hợp tác xã nông nghiệp cải tạo đồng ruộng, làm lại bờ vùng, bờ thửa, nếu đứng về đỉnh núi Chè nhìn xuống cánh đồng Hương thấy rõ hình một gương tròn, một chiếc lược và con dao nhỏ. Thế đất ấy, theo các nhà phong thủy giải thích làng Trà Phương xưa thường sinh con gái có nhan sắc, đức hạnh. Thái Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toàn, vợ đích của vua khai sáng nhà Mạc là Mạc Đăng Dung. Câu đồng dao cổ: “Cổ trai Đế Vương, Trà Hương Công Chúa” chứng minh thuyết phong thủy trên.
Sử liệu chính thống hiện không có thông tin gì về bà, nhưng sử liệu điền dã và nhất là bia thời Mạc nói về bà rất nhiều. Hai nguồn sử liệu này đều thống nhất ca tụng vị Thái Hoàng Thái Hậu này “là bậc thánh mẫu của thánh triều, chính vị Đông trào, hóa thành nam quốc, sánh đức thánh thiện Đồ Sơn (nhà Hạ)” (Văn bia ghi việc trung tu chùa Bảo Lâm xã Trâu Bộ huyện Giáp Sơn). Dân vùng Kiến Thụy, An Lão nay còn truyền dải đất ven đầm từ trang Tiên Cầm đến Kỳ Sơn tục gọi là giải yếm bà Chúa là ruộng Thái Hoàng Thái Hậu ban cho dân Trà Phương. Riêng về việc bà đứng hưng công xây mới, sửa chữa chùa chiền, cầu quán, chợ búa còn khá nhiều như chùa Sùng Quang xã Do Nghi huyện Vĩnh Lại, chùa Thánh Thọ xã Hoàng Trạch huyện Cẩm Bình, chùa Sùng Ân xã Thọ Lão huyện Phù Tiên, chùa Bảo Thúc xã Thái Khê huyện Yên Hưng, chùa Bảo Lâm xã Trâu Bộ huyện Giáp Sơn, chùa Báo Ân xã An Chiểu huyện Phù Tiên, chùa Phổ Chiếu xã Văn Lan nay là thôn Văn Hòa, chùa Bà Đanh nay là Thiên Phúc Tự, xã Trà Hương nay là thôn Trà Phương, chùa Trúc Am thôn Du Lễ đều thuộc huyện Kiến Thụy; chùa Hà Lâu xã Đông Minh nay là thôn Đông Ninh, chùa Minh Phúc và cầu Quán ở xã Cẩm Khê nay là thôn Cẩm Khê đều thuộc huyện Tiên Lãng.
Số tiền, ruộng bà cúng cho các nhà chùa không nhiều, nơi ít nhất là 10 quan tiền như chùa Báo Ân xã An Chiểu, nơi nhiều nhất là chùa, cầu, quán xã Cẩm Khê do bà hưng công, sau lại mua cho xã 5 mẫu ruộng trị giá 120 lạng bạc.
Riêng chùa Bà Đanh ở quê, bà cũng chỉ cúng có 1 mẫu 9 sào ruộng, nhưng ruộng “dải yếm bà Chúa diện tích rất lớn kéo dài từ Thượng trí Tiên Cấm Hạ chí Kỳ Sơn. Sự hay của dải đất này là theo hướng Bắc Nam thì ruộng bắt đầu từ cửa chùa Thiên Phuc làng Hoà Liễu ruộng có diện tích 2,5 mẫu, dải yếm uốn lượn lên phía Bắc khoảng vài trăm mét thuộc địa phận thôn Tiên Cầm rồi lại uốn xuống làng Liễu xuôi về làng Trà dải ấy lại rộng thành đầm diện tích hàng ngàn mẫu ruộng và tiếp uốn lượn xuống phía Nam đến làng Kỳ Sơn và lại uốn lên phía Bắc khoảng vài trăm mét đến cửa chùa Ngọc kết thúc là diện tích 3 mẫu ở cửa chùa này. Như vậy diện tích dải Yếm này dài khoảng hơn 10 km, rộng 20m, đầu phía bắc diện tích là 2,5 mẫu, đoạn giữa thuộc địa phận Trà Phương rộng hàng ngàn mẫu chính là đầm cửa chùa Thiên Phúc kết thúc, là 3 mẫu ruộng cửa chùa Ngọc. Nếu ta nghiên cứu sẽ thấy sự kỳ diệu của ruộng dải yếm bà Chúa về hình thể uốn lượncũng như diện tích của nó.
Nhưng những nơi bà có tham gia đóng góp dù ít dù nhiều đều thấy có nhiều hoàng thân, quốc thích, đại thần văn võ tham gia đóng góp.
Có thể nói Thái Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toàn có công với việc bảo vệ di sản văn hóa dân tộc.
(Theo Văn bia thời Mạc Địa chí Hải Phòng. Hồ sơ di tích của Bảo tàng Hải Dương, tư liệu điền dã)
Chùa Thiên Phúc làng Trà Phương
Chùa Thiên Phúc tại Trà Phương tên cổ là Bà Đanh Tự được Thái Hoàng Thái Hậu nhà Mạc cùng cháu là Khiêm Vương Mạc Kính Điển, hơn chục công chúa, thân Vương và quan tướng hưng công xây dựng, văn bia dựng ngày 26 tháng 8 năm Thuần phúc sơ niên (1565) ghi:
“Thái Hoàng Thái Hậu
Khiêm Thái Vương cúng 10 lạng bạc. Lị Vương, Thuận Vương cúng 5 lạng bạc. Vinh Quốc thái phu nhân 9 lạng 5 tiền. Tĩnh quốc thái phu nhân 10 lạng. Bảo gia thái trưởng công chúa tiền 10 quan. Phúc Nghi thái trưởng công chúa 1 lạng 8 tiền. Thọ Phương thái trưởng công chúa 2 lạng 8 tiền. Phúc thành thái trưởng công chúa. Sùng Quốc công 5 lạng. Văn Quốc công 9 lạng 5 tiền Ninh Quốc công 2 lạng, Triều Quận công 1 lạng. Phú Quận công 1 lạng. Trịnh Quận công gỗ lim 2 cây. Ngạn Quận công 1 lạng. Khang Quận công 1 lạng. An Quận công 1 lạng, khuyên tai 1 đôi . Vị Quận công 1 lạng, khuyên tai 1 đôi . Dương Quận công 1 lạng. Tuy Quận công 1 lạng, Thanh Uy hầu 1 lạng. Dựng bia ngày 26 tháng 8, năm Thuần phúc sơ niên 1565. Ruộng tín thí:
Ngày 8 tháng 10 nhuận năm Bính Dần, Thái Hoàng Thái Hậu có ruộng của bản điện được cấp và mua mới tất cả là 1 mẫu 9 sào cúng vào chùa Bà Đanh làm của Tam Bảo. Kê: Một mảnh xứ Ngoại Tổ Cội 1 mẫu 9 sào tại xã Lan Ổ, huyện An Lão: Phía Đông gần ruộng của cố Hương La hầu Vũ Trụ, Tây gần ruộng An Lộc bá Vũ Du Mỹ, Nam gần chằm, bắc gần đường. Phần trên có bia ruộng cúng tiến làm của Tam Bảo, giao cho chùa để tiện cày cấy và khói hương thờ Thánh. Nếu ai mai táng lên ruộng, phá hoại ruộng di chuyển bia ruộng đều bị chư Phật chiếu xét, tru di ba đời. Nay thề nguyện”.(1)
Năm 1936-1938 Ngô Thị Dĩnh người làng Trà cùng chồng(người Pháp) là giám đốc Đài thiên văn Phù Liễn hưng công xây lại, gần đây hòa thượng Thích Quảng Mẫn người từ nhỏ tu ở chùa này đã sửa chữa nên chùa càng ngày càng đẹp hơn xưa.
Chùa có nhiều hiện vật thuộc văn hoá thời nhà Mạc, nhà Nguyễn, hệ thống tuợng Phật được tạc khắc rất tinh sảo, đặc biệt có hai pho tượng đá xanh tạc Hoàng đế Mạc Đăng Dung và Thái Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toàn thờ ở bên phải, bên trái thờ Tam toà Thánh Mẫu. Phía Đông là nhà thờ tổ có nhiều tượng trong đó có một tượng đá chưa rõ danh tính, tượng vị quan nhà Mạc và ông Tây chồng bà Rĩnh có công xây chùa.
Văn bia thời Mạc đã ghi: Thái Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toàn hưng công xây mới, sửa chữa chùa, cầu quán, chợ còn khá nhiều như chùa Sùng Quang xã Do Nghi huyện Vĩnh Lại, chùa Thánh Thọ xã Hoàng Trạch huyện Cẩm Bình, chùa Sùng Ân xã Thọ Lão huyện Phù Tiên, chùa Bảo Thúc xã Thái Khê huyện Yên Hưng, chùa Bảo Lâm xã Trâu Bộ huyện Giáp Sơn, chùa Báo Ân xã An Chiểu huyện Phù Tiên, chùa Phổ Chiếu xã Văn Lan nay là thôn Văn Hòa, chùa Bà Đanh nay là Thiên Phúc Tự, thôn Trà Phương, chùa Trúc Am thôn Du Lễ đều thuộc huyện Kiến Thụy; chùa Hà Lâu xã Đông Minh nay là thôn Đông Ninh, chùa Minh Phúc và cầu Quán ở xã Cẩm Khê nay là thôn Cẩm Khê đều thuộc huyện Tiên Lãng.
Số ruộng Người cúng trên 30 mẫu, vàng 6000 lá cùng nhiều tiền, gỗ cho cho các chùa ở Bắc Bộ, nơi ít nhất là 10 quan tiền như chùa Báo Ân xã An Chiểu, nơi nhiều nhất là chùa, cầu, quán xã Cẩm Khê do Người hưng công, sau lại mua cho xã 5 mẫu ruộng trị giá 120 lạng bạc.
Riêng chùa Bà Đanh ở bản quán, Người cúng có 1 mẫu 9 sào ruộng, nhưng dải đất từ trang Tiên Cầm đến Kỳ Sơn tục gọi là “giải yếm bà Chúa” là ruộng Thái Hoàng Thái Hậu ban cho dân Trà Phương diện tích từ thượng chí Tiên Cầm hạ chí Kỳ Sơn. Sự hay của dải đất này là theo hướng Bắc Nam, bắt đầu dải yếm là ruộng có diện tích 2,5 mẫu ở cửa chùa Thiên Phúc làng Hoà Liễu, uốn lượn lên phía Bắc khoảng vài trăm mét thuộc địa phận thôn Tiên Cầm rồi lại uốn xuống làng Liễu xuôi về làng Trà dải ấy lại rộng thành đầm diện tích hàng ngàn mẫu ruộng, tiếp uốn lượn xuống phía Nam qua Đồng Lá đến làng Kỳ Sơn, lại uốn lên phía Bắc khoảng vài trăm mét kết thúc là diện tích 3 mẫu ở cửa cửa chùa Ngọc. Như vậy diện tích dải Yếm này dài khoảng gần 10 km, rộng hơn 20m, đầu phía bắc diện tích là 2,5 mẫu, đoạn giữa thuộc địa phận Trà Phương rộng hàng ngàn mẫu là đầm cửa chùa Thiên Phúc kết thúc là 3 mẫu ruộng cửa chùa Ngọc. Nếu ta nghiên cứu sẽ thấy sự kỳ diệu của “ruộng dải yếm bà Chúa” về hình thể uốn lượn cũng như diện tích của nó. Thái Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toàn có công với việc bảo vệ di sản văn hóa dân tộc. Nên phật tử đương thời đã suy tôn Người là: Mẫu nghi thiên hạ, là vị phật sống trên trần gian” (2)
Nỗi buồn của tôi và hy vọng
Ngày 15 tháng Mùi hàng năm là ngày giỗ Thái Hoàng Thái Hậu nhà Mạc Vũ Thị Ngọc Toàn là người làng Trà. Ngày này năm Canh Dần tôi về cúng Người, lần đầu chưa hiểu hết được lễ nghi nhưng lòng thành hôm trước gửi các cụ chút tiền để sắm lễ, thấy vui vì mình đã biết đến Người.
Ngày này năm Tân Mão tôi về dâng Người: hương, hoa huệ, ngũ quả, thấy trên ban thờ có đĩa xôi lớn, gà luộc nguyên con, hai bình hoa đã úa, lòng tôi thấy buồn. Khoảng 11 giờ xuống dưới nhà tạo lễ thấy quan viên trong làng đã dùng bữa cơm chay đang ra về, vào trong nhà tổ thấy nhà sư không rõ pháp danh đang lớn tiếng mắng các già: về sắm lễ không đúng, mà phải sắm một mâm cúng mặn, thịt phải thái chứ không được để nguyên miếng ai mà hưởng được…, lời lẽ nặng nề, các già hai tay chắp một điều con, hai điều con thật là tội nghiệp, lại thêm buồn. Những phật tử là nông dân nhờ cụ Hồ xóa nạn mù chữ mà biết chữ, kinh sách ai dạy đến nơi đến chốn? lại nghèo nên lễ nghi chắc không thể bài bản?
Căn cứ vào lịch sử thì: Năm 1541 vua Mạc Đăng Dung qua đời Thái Hoàng Thái Hậu quy theo đạo Phật, nhiều nguồn sử liệu đều thống nhất ca tụng Thái Hoàng Thái Hậu “là bậc thánh mẫu của thánh triều, chính vị Đông trào, hóa thành Nam quốc, sánh đức thánh thiện Đồ Sơn – nhà Hạ” (Văn bia thời Mạc ghi việc trung tu chùa Bảo Lâm xã Trâu Bộ huyện Giáp Sơn).
Như vậy người đã theo đạo Phật cho nên giỗ Người phải theo đạo Phật chứ không thể cúng mặn? Việc giỗ Người nhà sư nên cùng dân làng lo lễ giỗ có lẽ phải đạo. Vì chắc về tuổi và công lao đức độ của Người còn hơn nhiều người đang bước vào cõi tu hành. Lòng tôi mong rằng chùa làng Trà sẽ có nhà Sư (bậc Chính Đẳng Chính Giác, người giáo hóa chúng sinh về những điều mình chứng ngộ), để giáo hoá dân làng Trà mau giác ngộ Đạo Phật để tu thân, hiểu nguồn gốc của chùa làng để bảo vệ, tu bổ… cho xứng với công lao của các bậc tiền nhân với danh thắng của xứ Đông.
Lòng riêng tôi kính yêu Thái Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toàn vì công lao, đức độ của Người đối với dân vùng Bắc Việt nói chung và làng ta nói riêng, xin gửi đến các tín chủ làng Trà vài điều tâm đắc, mong sao mọi chúng ta được đức Phật soi sáng trong cõi đời này, nếu có gì không đúng xin được các phật tử lượng thứ.
Đình Trà phương nơi thờ Thái Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toàn và Hoàng Đế Mạc Đăng Dung biết bao giờ mới được phục dựng để thờ phụng cho xứng với công lao của Người?
(1) trang 190, (2) trang 48 – Văn bia thời Mạc – PGS.TS Đinh Khắc Thuần.