BÀI PHÁT BIỂU NHÂN DỊP KỶ NIỆM 472 NĂM NGÀY MẠC THÁI TỔ BĂNG HÀ ———————- Thái Khắc Việt

BÀI PHÁT BIỂU

NHÂN DỊP KỶ NIỆM 472 NĂM

 NGÀY MẠC THÁI TỔ BĂNG HÀ

———————-

           Thái Khắc Việt

PCTTT Hội đồng Mạc tộc Việt Nam

                                                                                                      

 Kính thưa:

– Các đồng chí Lãnh đạo Đảng, Chính quyền

và các Ban ngành đoàn thể thành phố Hải Phòng

 –  Các đồng chí Lãnh đạo Đảng, Chính quyền và các Ban ngành đoàn thể huyện Kiến Thụy và các xã trong huyện.

–  Các đồng chí Lãnh đạo Đảng, Chính quyền và các Ban ngành đoàn thể xã Ngũ Đoan.

 – Các Quý vi Đại biểu đại diện cho các Tổng hội Mạctộc thế giới

 – Các quý vị đại diện của các chi họ Mạc, gốc Mạc Việt Nam

  Bà con họ Mạc và gốc Mạc trong cả nước, Bà con họ Mạc gốc Mạc định cư ở nước ngoài.

– Quý khách thập phương, bà con trăm họ vê dâng hương Lễ tưởng niệm 472 năm Mạc Thái Tổ băng hà.       

Nhân dịp này, thay mặt HĐMTVN, Thay mặt cho 567 chi họ Mạc và gốc Mạc trong toàn quốc, chúng tôi xin trân trọng gửi  tới các quý vị  lãnh đạo Đảng, Chính quyền, và các cơ quan Ban ngành đoàn thể thành phố Hải Phòng, huyện Kiến Thụy, xã Ngũ Đoan , các vị  khách quý, các cụ, các ông, các bà, các anh, các chị, các cháu họ Mạc và gốc Mạc, bà con trăm họ, khách thập phương lời kính chúc sức khoẻ và lời chào trân trọng nhất.

Kính thưa các đồng chí lãnh đạo và quý vị đại biểu !

Được sự quan tâm của  lãnh đạo Đảng, Chính quyền Thành phố Hải Phòng; cùng các sở, ban, ngành thành phố, UBND huyện Kiến Thụy đã tổ chức Lễ tưởng niệm trọng thể tại Khu tưởng niệm Vương triều Mạc tại xã  Ngũ Đoan, huyện Kiến Thụy, Thành phố Hải Phòng. Trong Diễn văn đọc tại Lễ tưởng niệm, Lãnh đạo địa phương đã ca ngợi công lao to lớn của Mạc Thái Tổ và Vương triều Mạc đã một thời: “Dày công với nước, nặng  đức  với  dân, những  mong giang sơn trường tồn, dân an quốc thịnh,” điều đó đã nói  lên công lao to lớn của Vương Triều Mạc đã có nhiều đóng góp to lớn,xứng đáng cho Lịch sử của dân tộc, cho giang sơn gấm vóc, đã từng bước và đến nay đã ngấm sâu trong tâm khảm lòng tri ân hiếu nghĩa của người dân, của các cơ quan, chính quyền trên vùng đất Dương Kinh, địa linh nhân kiệt mà lễ tưởng niệm hôm nay là một minh chứng.

Đại hội Đại biểu Mạc tộc Việt Nam lần thứ nhất đã được tổ chức tại thủ đô Hà Nội, mở ra trang sử mới cho sự tập hợp, đoàn kết tộc họ Mạc trên cả nước và ở nước ngoài; tiếp đó Đại hội Đại biểu tộc Mạc ở nhiều tỉnh và thành phố trên cả nước được tiến hành, đã quần tụ con cháu dòng họ đoàn kết, giúp đỡ nhau, chung tay xây dựng quê hương, đất nước, làm nhiều việc hiếu nghĩa, tri ân Tiên Tổ. Ngày giỗ của Mạc Thái tổ (22/8 âm lịch) đã trở thành ngày hội của nhân dân và khách thập phương. Con cháu nội, ngoại, dâu, rể tộc Mạc, gốc Mạc cả nước tìm về cội nguồn ngày một đông vui, với niềm vinh dự và tự hào khôn tả. Ngày càng kết nối được nhiều chi họ về đoàn tụ với dòng họ Mạc. Quan hệ Mạc tộc thế giới ngày càng được mở rộng.

Đặc biệt, ngày 1 tháng giêng năm 2013, Đại hội thành lập Tổng hội Mạc tộc thế giới đã được tổ chức quy mô Họ Mạc trên toàn thế giới tại tỉnh Quảng Đông – TQ. Đại hội đã thành công tốt đẹp, mở ra một trang sử mới cho họ Mạc và đưa Mạc tộc VN lên tầm cao mới. Hoà nhập Mạc tộc thế giới.

Và nhận lời mời của Hội đồng Mạc tộc Việt Nam, Đoàn đại biểu Tổng hội Mạc tộc thế giới đã đến thăm Viẹt Nam, một đoàn Họ Mạc nước ngoài đến thăm VN đông nhất từ trước đến nay 142 người, Đoàn đã đến dâng hương tại đền thờ Lưỡng quốc trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi nhân ngày Giỗ của Ngài ( 10/2/2013 âm lịch, Đoàn đã đến dâng hương tại Từ đường họ Mạc Cổ Trai, ở Thái Miếu Dương Kinh…

Các chi họ Mạc và gốc Mạc trong cả nước đã có nhiều chương trình hành động phong phú sinh động và hiếu quả cao như Tổ chức tốt hoạt động khuyến học khuyến tài, mừng thọ, hoạt động của các câu lạc bộ Doanh nhân Mạc tộc…

Nhiều cuộc Hội thảo tầm Quốc gia liên tục được tổ chức khẳng định tính chính đáng của Vương triều Mạc và những đóng góp to lớn trong lịch sử VN.

Đặc biệt trong những tháng gần đây, Việc trùng tu tôn tạo Từ đường họ Mạc Cổ Trai đã thể hiện quyết tâm cao độ của con cháu họ Mạc, HĐMT Hải Phòng đã chỉ đạo các chi họ Mạc và gốc Mạc Hải Phòng không quản ngày đêm quyết tâm hoàn thành đúng tiến độ, để có một khuôn viên rộng rãi đúng tầm họ Mạc VN

Và cũng nhân dịp này, chúng ta cũng xin hứa trước anh linh Ngài : Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, con cháu họ Mạc vẫn có ý chí vươn lên, đem hết tài lực phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, chấn hưng dòng họ. Xứng danh con cháu một Vương triều.

Có được thành tích nêu trên phải nói sự đống góp to lớn của toàn dòng họ Mạc VN, nhiều thành tích mà không nói hết được, đặc biêt nhân dịp này , Thay mặt HĐMTVN, bà con họ Mạc chúng tôi chân thành bày tỏ lòng biết ơn tới

–         Lãnh đạo Đảng, chính quyền và các ban ngành TP Hải Phòng

–         Lãnh đạo Đảng, chính quyền và các ban ngành  huyện Kiến Thuỵ

–         Lãnh đạo Đảng, chính quyền và các ban ngành xã  Ngũ Đoan

–         Bà con các thôn trong xã Ngũ  Đoan và các xã trong huyện

–         Các nhà Khoa hoc, các nhà nghiên cứu về Vương triêu Mạc

–         Bà con họ Mạc và gốc Mạc trong toàn quốc và ở nước ngoài

–         Các Đoàn Đại biểu Tổng hội Mạc tộc thế giới

–         Khách thập phương và các nhà doanh nhân, các nhà hảo tâm, đã góp sức lực trí tuệ và vật chất cho Khu tưởng niệm Vương triều Mạc và Từ đuờng họ Mạc Cổ Trai và các từ đ ường , di  tích họ Mạc trên cả nước.

Cũng nhân dịp này chúng tôi muốn gửi đến quý vị và bà con họ Mạc về Kế hoach sắp tới

–         Tiếp tục thực hiện tốt cuộc vận động xây dựng khu tưởng niệm Vương trièu Mạc giai đoạn II

–         Vận động xây dựng Từ đường họ  Mạc Cổ Trai để đến ngày Giỗ Ngài

22 tháng 8 năm 2015 âm lịch  hoàn thành

–         Đẩy  mạnh và Nâng cao các hoạt động Mạc tộc VN

–         Tổ chức các cuộc Hội thảo tiếp.

–         Lập thành tích cao nhất tiến tới Đại hội đại biểu Toàn quốc Mạc tộc VN lần thứ II vào tháng 11.2014.  

Kính thưa các đồng chí lãnh đạo và quý vị đại biểu !

Được phép của lãnh đạo Thành phố và Ban Tổ chức Lễ tưởng niệm 472 năm, ngày Mạc Thái Tổ băng hà, với tấm lòng tri ân sâu sắc của các con cháu hậu duệ Nhà  Mạc, luôn hướng về cội nguồn tiên tổ, tri ân công đức to lớn của Vương triều Mạc, mà đặc biệt là Thái Tổ Nhân Minh Cao Hoàng Đế Mạc Đăng Dung.

–         Thay mặt HĐMT Việt Nam và con cháu hậu duệ họ Mạc và gốc Mạc trong nước cũng như  ở nước ngoài,  chúng tôi chân thành cảm ơn quý vị đại biểu, các vị khách quý, cảm ơn các cụ, các ông, các bà, các bác, các chú, các anh, các chị và các cháu họ Mạc và gốc Mạc vượt hàng trăm nghin cây số về với Cội nguồn

–         Cảm ơn các Đoàn đại biểu Mạc tộc thế giới

–         Cảm ơn bà con trăm họ, khách thập phương, các nhà hảo tâm từ mọi miền đất nước đã về dự Lễ Tưởng niệm 472 năm ngày Thái Tổ Nhân Minh Cao Hoàng Đế Mạc Đăng Dung băng hà.

Với tình cảm sâu sắc và sự kính trọng đó, Chúng tôi xin kính chúc sức khỏe các đồng chí lãnh đạo và quý vị đại biểu trong và ngoài nước, cùng toàn thế quý khách thập phương và con cháu hậu duệ nhà Mạc luôn luôn mạnh khỏe, hạnh phúc và thành công trong cuộc sống. Xin trân trọng cảm ơn  !

Đăng tải tại Uncategorized | Bình luận về bài viết này

CÚNG GIỖ MẠC THÁI TỔ TẠI TỪ ĐƯỜNG HỌ MẠC CỔ TRAI, NGŨ ĐOAN, KIẾN THỤY, HẢI PHÒNG

CÚNG GIỖ MẠC THÁI TỔ TẠI TỪ ĐƯỜNG HỌ MẠC

CỔ TRAI, NGŨ ĐOAN, KIẾN THỤY, HẢI PHÒNG 

Ngày 22/8 Quý Tỵ 2013 con cháu dâu rể họ Mạc, gốc Mạc, trên mọi miền đất nước, về cúng giỗ Mạc Thái tổ đã có được một khuôn viên Từ đường rộng rãi để đủ nơi tế lễ, sắp cỗ, thụ lộc và giao lưu, tâm tình con cháu dâu rể gần xa tề tựu … Thật sung sướng, hoan hỉ!

Ngày Đại lễ cúng giỗ Mạc Thái Tổ, ngoài rừng cờ hoa, băng rôn, biểu ngữ truyền thống, ai cũng sửng sốt, những tưởng trong mơ, khi đến đường rẽ vào Từ đường họ Mạc, bởi được chào đón trước một chiếc cổng uy nghi, trang trọng, với sự bài trí đậm nét văn hóa tâm linh cung đình, cùng với đôi câu đối óng vàng, ấm tình, sâu nặng lời răn chỉ của Tổ Tiên. Trên đôi cây đèn cổng:後裔心德  莫族華榮長, xin dịch là: Hậu duệ Tâm Đức Trí – Mạc tộc Hoa Vinh Trường”; trên đôi trụ cổng:孫子万方終一本 – 莫祠恩祖奉萬世, xin dịch là: “Con cháu muôn phương chung một cội – Mạc Từ ân Tổ phụng muôn đời”Qua cổng, ngoái nhìn, lại thêm điều sửng sốt trong ánh vàng trên đôi trụ cổng phía trong: 世世孝義後裔 – 紀紀家興德祖先, xin dịch là: “Đời đời hiếu nghĩa tâm Hậu duệ – Kỷ kỷ gia hưng đức Tổ Tiên”, như lời truyền dạy của các bậc tiền bối nhân hiền, mừng và ban hồng phúc cho đàn con cháu, gia quyến, chi họ hồi hương sau ngày giỗ Tổ. Âu cũng là quy luật nhân quả của đời !

Dạo qua đường vào rộng mở, bà con cô bác ngỡ ngàng trước một không gian rộng thoáng, đã được con cháu Chi họ Mạc Cổ Trai, lao động hiếu nghĩa, trải cát mịn đêm hôm trước. Rồi đến nơi ở của cụ Trưởng họ Mạc Như Thiết, cứ qua hết ngỡ ngàng này lại tới sửng sốt kia. Chuyển về nơi ở mới (nhà Thủ từ –家祠守) đã nhiều ngày mà cụ Thiết vẫn còn luôn tâm sự, thổ lộ với mọi người: “Đến bây giờ mà tôi vẫn cứ tưởng là mơ, thực lòng, đời tôi chưa bao giờ dám nghĩ tới”. Và còn lời chỉ giáo của Tiên Tổ với con cháu dòng họ linh hiện qua câu đối trên đôi cây đèn trước nhà Thủ từ: 世傳欽直進香火 – 清節孝奉祖先, xin dịch là: “Truyền đời thành kính dâng hương hỏa – Thanh tiết hiếu tâm phụng Tổ Tiên”; Trên tường gian giữa nhà Thủ từ chói vàng với bức đại tự: “恩奉莫祖”, xin dịch là: “Ân phụng Mạc Tổ”.

Đúng 8g45, đại diện chính quyền địa phương và dòng họ, đã thực hành nghi lễ động thổ Nhà thờ Thái Mẫu Mạc triều. Nơi đây, sẽ phụng thờ Anh linh Thần tượng Hoàng hậu của 12 đức vua nhà Mạc. Công trình này, dòng họ phấn đấu sẽ cáo thành vào 15/6 âm lịch 2014, ngày chính kỵ của Thái Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toàn. Đoàn Chi họ Vũ (gốc họ của Thái Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toàn), ở làng Trà Phương, xã Thụy Hương, huyện Kiến Thụy, sau khi dâng hương Anh linh các Tiên Đế, Tiên Vượng nhà Mạc tại Từ đường, đã hội kiến và vô cùng tâm đắc với đề xuất của ông Hoàng Văn Kể, Phó Chủ tịch Hội đồng Mạc tộc Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng Mạc tộc Hải Phòng: Khi cáo thành Nhà thờ Thái Mẫu Mạc triều, sẽ xin nghinh rước Thần tượng Thái Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toàn, hiện đang phụng thờ tại Thiên Phúc tự ở Trà Phương, về phụng thờ tại Nhà thờ Thái Mẫu Mạc triều và lấy ngày này là ngày hai dòng họ Mạc và họ Vũ cùng địa phương, tổ chức “Lễ Hội Vua bà” hàng năm, tại Từ đường họ Mạc ở Cổ Trai.

Sau nghi lễ động thổ, ông Hoàng Văn Kể, Phó Chủ tịch Hội đồng Mạc tộc Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng Mạc tộc Hải Phòng, Trưởng Ban tổ chức cúng giỗ Mạc Thái Tổ Qúy Tỵ – 2013, thay mặt con cháu họ Mạc, gốc Mạc trên cả nước và ở nước ngoài, cung kính trình dâng Chúc văn trước Anh linh các Tiên Đế, Tiên Vương nhà Mạc.

Truyền thống dòng họ Mạc, công cao đức dầy với nước với dân, những oan khuất, cay nghiệt của các bậc Tiên Đế, Tiên Vương và bản lĩnh trung quân, ái quốc của các thế hệ con cháu Mạc tộc, từ xa xưa cho tới hôm nay, đã được trải rộng, vang vọng, hiển thị hùng hồn và sâu nặng, qua lời truyền cảm từ can tâm ông Hoàng Văn Kể, hậu duệ đời thứ 17, Đức Thái Tổ Nhân Minh Cao Hoàng Đế Mạc Đăng Dung, trình tấu.

Trong thời khắc linh thiêng, trọng đại này, thật mủi lòng khi thấy không chỉ các hậu duệ đang cùng quỳ vái bên ông Kể, mà còn thấy hàng trăm, hàng trăm con cháu và hầu như tất cả, mắt đang ngấn lệ, cố kìm giữ xúc cảm, cúi đầu kính lạy Tổ Tiên…

Sau lời dâng kính Chúc văn, đại diện Đảng ủy, UBND xã Ngũ Đoan – Trưởng Ban Quản lý Di tích Từ đường họ Mạc Cổ Trai, đã phát biểu và ông Thái Khắc Việt, Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Mạc tộc Việt Nam, công bố Quyết định thành lập Ban Vận động Mạc tộc Việt Nam, thực hiện nhiệm vụ trùng tu, tôn tạo và xây dựng Từ đường họ Mạc Cổ Trai, Kiến Thụy, Hải Phòng; trao Quyết định cho Hội đồng Mạc tộc Hải Phòng; quán triệt tinh thần thực hiện Quyết định và trân trọng cảm ơn chính quyền địa phương, người dân, đơn vị thi công đường vào Từ đường; Thành tâm cảm ơn và biểu dương Hội đồng Mạc tộc cùng các chi họ Mạc, gốc Mạc thành phố Hải Phòng, đã chủ động phối hợp cùng người dân, chính quyền địa phương, hoàn thành suất sắc nhiệm vụ thực hiện Đề án Tu bổ, tôn tạo và Mở rộng khuôn viên Từ đường họ, trong chương trình kế hoạch năm 2013, để mừng đón bà con cô bác dòng tộc, người dân và du khách thập phương cùng tề tựu về đây, thành kính dâng hương Tiên Tổ trong ngày húy kỵ của Người.

Đại Lễ cúng giỗ Mạc Thái Tổ năm nay, đã ghi đậm bao nghĩa cử cao đẹp về lòng tri ân Tiên Tổ, đang còn âm vang trên bầu trời Dương Kinh, mãi theo về cùng con cháu dòng tộc trên mọi miền đất nước.

Hẹn cùng gặp lại ngày này năm sau, trên mảnh đất địa linh nhân kiệt, phát đế Mạc triều khi xưa, chung vui tề tựu, cùng bên nhau thành kính dâng hương trước Anh linh Tiên Tổ – Thần tượng Tiên Đế, Tiên Vương Mạc triều.

Xin kính dâng bà con cô bác câu đối:

太祖登光莫朝起業 – 五世盛治國泰民安

và xin dịch là:

“Thái Tổ đăng quang Mạc triều khởi nghiệp –

Ngũ đời thịnh trị Quốc thái dân an”.

 

Một số hình ảnh trong buổi lễ:

 

 

 Ô. Hoàng Văn Kể, trình tấu Chúc văn trước anh linh Tiên Tổ tại Từ đường họ.

Thực hành nghi lễ động thổ nhà Thái Mẫu Mạc triều.

 Chủ tịch UBND xã Ngũ Đoan – Trưởng BQL Di tích Từ đường họ Mạc, phát biểu ý kiến tại buổi lễ.

 

 Ô. Thái Khắc Việt, công bố và trao Quyết định thành lập BVĐ Tu bổ, xây dựng và mở rộng Từ đường họ Mạc cho HĐMT Hải Phòng và đọc Lời kêu gọi …

 Ô. Trần Đăng Uý, báo cáo tình hình và kết quả triển khai vận động công đức xây dựng Từ đường họ Mạc ở Cổ Trai, của HĐMT tỉnh Hải Dương.

 Đoàn Đảng ủy, UBND huyện Kiến Thụy cùng đại diện dòng họ Trần ở Hải Phòng dâng hương.

 Đoàn Hội đồng Mạc tộc Việt Nam, dâng hương.

 Đoàn Hội đồng Mạc tộc thành phố Hải Phòng, dâng hương.

 Đoàn Đảng ủy, UBND xã Ngũ Đoan, dâng hương.

 Đoàn Hội đồng gia tộc họ Vũ (quê hương Thái Hoàng Thái Hậu), dâng hương.

 

 Đoàn Hội đồng Mạc tộc liên tỉnh Nghệ Tĩnh, dâng hương.

 Đoàn Hội đồng Mạc tộc tỉnh Hải Dương, dâng hương.

 Đoàn Hội đồng Mạc tộc tỉnh Ninh Bình, dâng hương.

 Đoàn Hội đồng Mạc tộc Thành phố Hồ Chí Minh, dâng hương.

 Ô. Hoàng Văn Kể cùng ông Phan Đình Trạc và bà Thái Hương, dâng hương.

 

  

 Cùng nhau thụ lộc Tiên Tổ.

Tin và ảnh: Hoàng Sơn Hiền

(Do dung lượng tin trên Website có hạn, nên không thể đăng tải được nhiều hình ảnh, thành tâm cáo lỗi các chi họ và bà con cô bác) 

Đăng tải tại Uncategorized | Bình luận về bài viết này

NHÀ MẠC TRONG BỘ LỊCH SỬ VIỆT NAM MỚI XUẤT BẢN


NHÀ MẠC TRONG BỘ LỊCH SỬ VIỆT NAM MỚI XUẤT BẢN

 

Mạc Văn Trang

 

Tôi may mắn được người bạn tặng riêng cho bộ LỊCH SỬ VIỆT NAM do Nhà xuất bản Giáo dục mới ấn hành, nộp lưu chiểu tháng 12/2012. Bộ Lịch sử Việt Nam (LSVN) mới này gồm bốn tập, in khổ 30cm x 20cm khá dày, hơn 3.000 trang.

tải xuống

 

Bộ LSVN mới được biên soạn bởi các nhà sử học sau:

 

– Tập I:  “TỪ NGUỒN GỐC ĐẾN THẾ KỶ THỨ XIV”, Phan Huy Lê (chủ biên) cùng các sử gia Phan Đại Doãn, Lương Ninh, Nguyễn Quang Ngọc, Trần Quốc Vượng;

 

– Tập II: “TỪ CUỐI THẾ KỶ THỨ XIV ĐẾN GIỮA THẾ KỶ THỨ XIX”, Phan Huy Lê (chủ biên) cùng các sử gia Nguyễn Thừa Hỷ, Nguyễn Quang Ngọc, Nguyễn Hải Kế, Vũ Văn Quân;

 

– Tập III: “TỪ NĂM 1858 ĐẾN NĂM 1945”, Đinh Xuân Lâm (chủ biên), cùng các sử gia Nguyễn Văn Khánh, Phạm Hồng Tung, Phạm Xanh;

 

– Tập IV: “TỪ 1945 ĐẾN 2005” Lê Mậu Hãn (chủ biên) cùng các sử gia Nguyễn Đình Lê, Trương Thị Tiến.

 

Toàn bộ 4 tập LSVN gồm 13 phần, mỗi phần chia làm nhiều chương, mục. Phần viết về vương triều Mạc nằm trong tập II, phần 5. Đó là Chương IV có tiêu đề “NƯỚC ĐẠI VIỆT THỜI MẠC”, dài 78 trang, trong đó có ba mục lớn và 8 mục nhỏ:

 

1. TRIỀU LÊ SUY VONG VÀ SỰ THÀNH LẬP TRIỀU MẠC

1.1.           Triều Lê suy vong

1.2.           Triều Mạc thành lập

2. NƯỚC ĐẠI VIỆT DƯỚI VƯƠNG TRIỀU MẠC

2.1           Tổ chức triều chính

2.2.           Chính sách ruộng đất, tiền tệ

2.3.           Quan hệ với nhà Minh

2.4.           Kinh tế nông nghiệp

2.5.           Kinh tế thủ công nghiệp và thương nghiệp

2.6.           Văn hóa thời Mạc

3. NỘI CHIẾN LÊ – MẠC (1533 – 1592) VÀ THẤT BẠI CỦA TRIỀU MẠC

 

Các nhà sử học đã thể hiện quan điểm khoa học, sử dụng nhiều tư liệu mới, nhiều hình ảnh, trình bầy khách quan hơn và khá sinh động một thời kỳ đầy khó khăn, biến động, nhưng vương triều Mạc đã tồn tại 65 năm ở Thăng Long và có những đóng góp tích cực cho lịch sử dân tộc. Tác giả cũng trình bầy về thời kỳ Cao Bằng với năm đời vua Mạc (1593 – 1677) và vẫn nuôi ý chí phục hưng nên đã hai lần tiến đánh, chiếm Thăng Long (1600 và 1623)… Các tác giả không nói đến thời kỳ “Hậu Cao Bằng” nhưng ở phần sau có một mục nói về 30 năm cuộc “KHỞI NGHĨA CỦA HOÀNG CÔNG CHẤT” (1739 – 1769) và chú thích “Hoàng Công Chất vốn gốc họ Mạc”…

 

Nếu ta đọc cuốn “Đại Cương Lịch sử Việt Nam” (tập I) cũng do NXB Giáo dục ấn hành năm 2005, “Nhà Mạc” chỉ  được ghi một mục nhỏ, dài 01 trang, toàn chép lại những nhận xét đầy định kiến về nhà Mạc của các sử sách xưa, mới thấy bộ LSVN mới xuất bản lần này là một bước tiến lớn.

 

Là con cháu hậu duệ Mạc tộc, vương triều Mạc, chúng ta vui mừng khi nhà Mạc có một chương xứng đáng trong bộ LỊCH SỬ VIỆT NAM. Lời của GS Văn Tạo, nguyên Viện trưởng Viện Sử học Việt Nam: “Phải lấy lại công minh lịch sử, công bằng xã hội cho nhà Mạc” đã bước đầu được thực hiện!

 

Mỗi triều đại đều có nhiều điều hay, dở, điều cơ bản là các sử gia vượt qua những “định kiến lịch sử” về nhà Mạc đã ăn sâu trong tim óc nhiều người và lan rộng trong xã hội suốt mấy trăm năm qua, để đánh giá khách quan về “Nước Đại Việt thời Mạc”. Tất nhiên còn nhiều vấn đề vẫn đang và tiếp tục nghiên cứu.

 

Chúng ta còn mong chờ sự kiện lớn hơn, như GS Phan Huy Lê nói, đang biện soạn bộ Quốc sử 25 tập, trong đó nhà Mạc riêng một tập.

 

12/3/2013

MVT

 

Đăng tải tại Uncategorized | Bình luận về bài viết này

THÔNG BÁO CỦA BAN LIÊN LẠC MẠC TỘC VÀ GỐC MẠC QUẢNG NAM ĐÀ NẴNG

HỘI ĐỒNG MẠC TỘC VIỆT NAM

BAN LIÊN LẠC MẠC TỘC VÀ GỐC MẠC QUẢNG NAM ĐÀ NẴNG

Đà Nẵng, ngày 24 tháng 2 năm 2013 

THÔNG BÁO

(V/v kết luận Hội nghị BLL Mạc tộc và gốc Mạc)

Ngày 24 tháng 2 năm 2013 nhằm ngày 15 tháng giêng năm Quý Tỵ tại Đà Nẵng Ban liên lạc Mạc tộc và gốc Mạc tổ chức hội nghị nhân đầu xuân mới Quý Tỵ và tổng kết công tác của Ban liên lạc.

Mở đầu cuộc họp trưởng ban liên lạc chúc mừng năm mới với toàn thể hội nghị và đọc thư chúc tết của chủ tịch hội đồng Mạc tộc Việt Nam. Sau đó thông qua báo cáo tổng kết, báo cáo công khai tài chính và nêu rỏ những việc đã làm được, chưa làm được trong thời gian qua, phân tích nguyên nhân những yếu kém, tồn tại.

Sau khi nghe thảo luận và những góp ý của các đại biểu, Ban liên lạc đã kết luận và đề ra phương hướng năm 2013 như sau:

  1. Về kết nối dòng họ: Đã kết nối thêm 14 chi họ cộng với 17 chi họ đã tham gia, tổng cộng 31 chi họ, trong năm 2013 tiếp tục kết nối và vận động các chi họ mới tham gia sinh hoạt.
  2. Về thông tin liên lạc: Nâng cấp trang web của ban liên lạc, đề nghị các chi họ gửi bài và hình ảnh hoạt động cho ông Nguyễn Trường Hùng, phụ trách trang web.

Đề nghị các chi họ hưởng ứng cuộc thi thơ “Hướng về cội nguồn” do       Hội đồng Mạc tộc Việt Nam phát động.

  1. Trong thời gian đến BLL sẽ tổ chức gặp các trưởng tộc theo cụm để tạo điều kiện cho các cụ tham gia sinh hoạt, thời gian và địa điểm sẽ thông báo sau.
  2. Về đề tài khoa học: Tiếp tục xúc tiến triển khai đề tài: “Tộc Mạc ở xứ Đàng trong” Sau đó trình hội đồng Mạc tộc Việt Nam tổ chức hôi thảo khi có điều kiện.
  3. Tiếp tục duy trì công tác tu tạo từ đường, thăm viếng, tham gia các ngày kỵ Tiền Hiền tại các chi họ.
  1. Về công tác tài chính của BLL: Quỹ của BLL hiện quá nghèo, trong năm 2013 đề nghị các chi họ nộp quỹ theo quy định: Mỗi chi họ có số lượng hộ từ 50 trở lên nộp từ 1.000.000 đ trở lên/năm, các chi họ còn lại nộp từ 500.000 đ trở lên/năm. Ban tài chính phối hợp chặt chẽ với các trưởng tộc có kế hoạch vận động các cá nhân trên cơ sở danh sách do các chi họ cung cấp. Ban tài chính có trách nhiệm tổ chức kinh doanh có hiệu quả nhằm cung cấp kinh phí cho BLL hoạt động.
  2. BLL dự kiến tổ chức đại hội nhiệm kỳ 2 vào tháng 8 năm 2013 Bầu Hội đồng gia tộc và đề ra phương hướng nhiệm vụ nhiệm kỳ mới.

BLL đề nghị các chi họ nghiên cứu triển khai nhằm mang lại sự đoàn kết, vui tươi cho bà con trong dòng họ chúng ta.

BLL kính chúc các cụ cao niên, bà con cô bác trong toàn tộc một năm mới an bình và hạnh phúc.

TM BAN LIÊN LẠC

TRƯỞNG BAN

MẠC NHƯ GIÁC

Đăng tải tại Uncategorized | Bình luận về bài viết này

Xóm Hoàn Châu và mỘt dòng họ ởTrà Kiệu

Xóm Hoàn Châu và một dòng họ ở Trà Kiệu.

 Nguyễn Trường Hùng

Hoan Châu  tên chung của vùng (Xứ Nghệ) cũ (bao gồm cả Nghệ An và Hà Tĩnh) từ thời nhà Hậu Lê. Hai tỉnh này cùng chung một vùng văn hóa gọi là văn hóa Lam Hồng, có chung biểu tượng là núi Hồng – sông Lam. Núi Hồng Lĩnh nằm trọn trong đất Hà Tĩnh và sông Lam nằm ở ranh giới giữa Nghệ An và Hà Tĩnh.

Bộ Hoài Hoan là tên gọi vùng đất tương đương với Diễn Châu khi xưa, ở phía bắc tỉnh Nghệ An. Bộ Cửu Đức là tên gọi vùng đất tương đương với phần nam của tỉnh Nghệ An và tỉnh Hà Tĩnh hiện nay, tức đất Hoan Châu thời nhà Đường

Cuộc khởi nghĩa Hoan Châu do Mai Thúc Loan lãnh đạo nổ ra vào năm Khai Nguyên thứ nhất đời vua Đường Huyền Tông ở Trung Hoa, tức năm Quý Sửu (713).  Khởi nghĩa nổ ra tại Rú Đụn, còn gọi là Hùng Sơn (Nghệ An). Tương truyền lúc đó ông cùng đoàn phu gánh vải nộp cho nhà Đường, đã kêu gọi các phu gánh vải nổi dậy chống quân Đường. Tuy nhiên, hiện nay các nhà nghiên cứu đều thống nhất: sưu cao, thuế nặng là nguyên nhân khiến nhân dân nổi dậy chống lại ách đô hộ nhà Đường, nổi bật là khởi nghĩa Hoan Châu. Đây là cuộc khởi nghĩa có sự chuẩn bị, biết chọn thời cơ, không phải một cuộc bạo động. Chuyện “cống vải” là một chi tiết của truyền thuyết, không thể và không phải là nguyên nhân chính nổ ra cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc do Mai Thúc Loan lãnh đạo.

Tương truyền từ sau cuộc khởi nghĩa này, nhà Đường không bắt dân An Nam đô hộ phủ nộp cống vải quả hằng năm nữa

Vùng đất Trà Kiệu, xóm Hoàng Châu, thôn Trà Châu, xã Duy Sơn, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam này có một người con của đất Hoan Châu về định cư lấy nơi đây làm quê hương thứ hai của mình đó làThái tử (Lý Hòa) Mạc Cảnh Huống, cháu nội của Thái tổ Mạc Đăng Dung, con của vua Thái tông Mạc Đăng Doanh.

tải xuống (1) tải xuống (2) tải xuống (3)

TOÀN CẢNH KHU VỰC HOÀNG CHÂU, TRÀ KIỆU NĂM 1930.

(ảnh Anton Nguyễn Trường Thăng)

Mạc Đăng Lượng là hậu duệ đời thứ 11 của Lưỡng quốc Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi, là bậc chú của Thái tổ Mạc Đăng Dung, là con trưởng của cụ Mạc Đăng Trắc và cụ bà Đậu Thị Minh. Mạc Đăng Lượng đậu tiến sĩ năm 17 tuổi, làm quan dưới triều Hậu Lê được phong tước Quận công, dưới triều Mạc ông được phong là Phó Quốc vương. Năm 1535 ông cùng em trai là Mạc Tuấn Ngạn phụng mệnh Thái tông Mạc Đăng Doanh vào trấn thủ đất Hoan Châu (Nghệ An), đóng đại bản doanh tại vùng Đô Đặng (tức các xã Nam- Bắc- Đặng của huyện Đô Lương ngày nay). Lúc này Mạc Cảnh Huống lên 7 tuổi theo ông Nội chú là Mạc đăng Lượng về ở đất Hoan Châu.Năm 1564, Mạc Cảnh Huống thành lập gia đình với bà Nguyễn Thị Ngọc Dương là em gái phu nhân Đoan Quốc công Nguyễn Hoàng. Và như vậy, Mạc Cảnh Huống và Nguyễn Hoàng là anh em rể

Năm 1600 Trịnh Tùng bình định được nhà Mạc xưng Bình An Vương. Nguyễn Hoàng bỏ vào Nam dựng nghiệp riêng. Năm 1568, dưới thời vua Mạc Mậu Hợp, Mạc Cảnh Huống quyết định đưa gia đình vào Đàng Trong. Theo gia phả của chi phái họ Mạc ở làng Trà Kiệu, xã Duy Sơn, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, thì Mạc Cảnh Huống vào Thuận Hóa để theo nhà Nguyễn chống lại chúa Trịnh.

KHU HOANG CUNG VƠI ĐỀN THÁP ĐANG KHAI QUẬT VÀO NĂM 1927-28

(Hiện nay là phía sau Nhà ông Nguyễn Trường Mỹ và nhà thờ Mạc Nguyễn Trường tộc)

(ảnh Anton Nguyễn Trường Thăng)

Lịch sử cũng như gia phả dòng họ Mạc không cho biết nhiều thông tin tại sao một người vốn xuất thân từ hoàng tộc nhà Mạc lại chọn con đường phò tá một nhân vật vốn thuộc phía đối địch với nhà Mạc như Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng. Mạc Cảnh Huống cũng như anh ruột mình là Khiêm vương Mạc Kính Điển (?-1580), có tài năng trong lĩnh vực quân sự. Sau khi nhà Mạc thất thủ, người con gái của ông là quận chúa Mạc Thị Giai  cung em gái mình là bà Mạc Thị Lâu rời bỏ quê hương vào đất phương Nam lúc 15 tuổi, vào năm 1593 để tìm người chú ruột là Mạc Cảnh Huống.

Phải chăng đây là “Cảnh Huống”( tình huống xảy ra trong một hoàn cảnh nhất định) là Hoàng tử Mạc Lý Hòa đổi tên thành Mạc Cảnh Huống?  Từ “Mạc Cảnh Huống” diễn nôm nghĩa là: Đơn giản là hoàn cảnh.

Tháng 6 năm Quý Sửu (1613), chúa Tiên Nguyễn Hoàng mất, các quan vâng di chiếu tôn Nguyễn  Phúc Nguyên làm (Con rể Mạc Canh Huống)Thống lãnh Thuỷ bộ Chư dinh kiêm Tổng Nội ngoại Bình chương Quân quốc Trọng sự Thái bảo Thụy Quận công

Lúc này gia đình Mạc Cảnh Huống mới vào Quảng Nam, ban đầu gia đình ở (Xuyên Mỹ ( Duy An hiện nay) Nhưng do một năm sau đó lụt lớn, Mạc Cảnh Huống dùng thuyền đi thị sát và đến vùng Trà Kiệu nhì thấy cảnh trí hài hòa dân cư hiền hòa ông chuyển gia đình về Trà Kiệu đinh cư tại xóm Hoàng Châu hiện nay.

Từ năm 1627 đến năm 1633, quân Nguyễn và quân Trịnh đánh nhau qua lần thứ nhất   Mạc Cảnh Huống lúc đó là Thống binh (Tương đương với Tổng than mưu trưởng ngày nay) chỉ huy đạo quân của Chúa Nguyễn. Giáo sỹ Cristoboro Borri đã hết lời ca ngợi tính ưu việt của quân đội Đàng Trong dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên: “Như vậy, trên đất liền cũng như trên biển, vang dội tên tuổi quang vinh, làm vẻ vang cho quân đội Đàng Trong.[1]

Sau nhiều năm đánh nhau Họ Trịnh không thể tiến vào chiếm Thuận Hóa nên tập trung diệt tàn dư nhà Mạc ở Cao Bằng   dứt họ Vũ ở Tuyên Quang  củng cố địa bàn Bắc Bộ. Họ Nguyễn không thể ra Thăng Long nên dồn sức diệt Chiêm Thành, lấn sang Chân Lạp để mở mang bờ cõi vốn nhỏ hẹp về phía nam.

Năm 1930 Bà Mạc Thị Giai mất, Năm 1631 con trưởng của Sãi vương là Nguyễn Phúc Kỳ qua đời, con thứ hai là Nguyễn Phúc Lan được làm Thế tử, con thứ tư là Nguyễn Phúc Anh ra thay Kỳ trấn giữ Quảng Nam. Anh bất mãn vì không được lập làm thế tử, cho nên mưu thông đồng với chúa Trịnh. Năm 1634 Nguyễn Phúc Nguyên mất.

Tình hình nội bộ Chúa Nguyễn rối ren, quân Trịnh ngày càng mạnh. Năm 1638 lúc này Mạc Cảnh Huống đã 96 tuổi  và xin về hưu và ông dựng một ngôi chùa nhỏ trên Hòn Non Trược với tên là Bửu Châu sơn tự  để tu theo Nguyên lý Nhà Phật.

Năm 1642 em gái bà Mạc Thị Giai là bà Mạc Thị Lâu có chồng là Quốc sư Võ Quốc Công cũng xin về tu cùng ông, do quan niệm và phòng tránh những bất trắc ông xây cho bà ngôi chùa riêng là Thanh Tịnh[2] (Nghĩa là im lặng) ở gần nhà thờ tộc để tu hành (Nay là chùa Trà Kiệu). Thời gian khu vực này có nhiều chuyện hoang đường làm cho dân cư hoang mang như những hồn ma người Hời (Chăm) về quấy rối, chuyện vàng Hời nổi nhưng không lấy được, nhiều vụ treo cổ, ma giấu, nhà tự nhiên cháy,xuất hiện nhều bênh lạ…. theo chỉ đạo của ông dựng Miếu thần Hoàng để hộ quốc tý dân (hộ nước giúp dân) thờ các bật tiền bối khai đất theo tục lệ đât Hoan Châu (Nghệ An)…và trấn  iểm các tà thần quỷ dữ. Theo các bô lão trong làng thời điểm này Đình làng là nơi Nhà thờ Nguyễn thành hiện nay?

tải xuống (2)

TOAN CẢNH HOAN CHÂU NĂM 1927 NHÌN TỪ NHÀ THỜ NÚI

(ảnh Anton Nguyễn Trường Thăng)

Nói vê làng Trà Kiệu được lập vào năm 1471, khi vua Lê Thánh Tông (1442 – 1497) thân chinh đánh Chiêm, lập đạo Thừa tuyên thứ 13 Quảng Nam, rồi ban hành chính sách di dân lập ấp. Thời đó, 13 vị tiền hiền của làng gồm các tộc Lê – Lưu – Đinh – Nguyễn từ vùng đất Thanh – Nghệ – Tĩnh đã dừng chân tại huyện Hy Giang, phủ Thăng Hoa, thuộc Đạo thừa tuyên mới thành lập, rồi hoạch định chương trình thác thổ khai cương, chiêu dân lập ấp.

 

Nhưng khu vực xóm Hoàng Châu (dường như hiện nay ở làng Trà Kiệu mà có thể cả Miền Nam chỉ có xóm Hoàn Châu là có tên xóm, có Đình, Chùa, Miếu, và nhà thờ Hương Nhơn. Các cơ quan văn hóa, bảo tồn, bảo tàng cần quan tâm đến việc này) ngày nay bao gồm từ trong thành đến bờ suối, từ Xóm Củi giáp Duy Trung hiện nay đên hết Nhà Thờ Lớn là địa bàn của xóm Hoàn Châu là khu vực của gia đình ông Thống binh Mạc Cảnh Huống sau khi Nguyễn Phúc Nguyên lên ngôi chúa thì dòng họ Mạc Cảnh Huống được mang họ Chúa đây là vinh dự không thể từ chối, là tình thế tình huống không thể thay đổi, mặc khác để tránh sự truy sát của Lê – Trịnh  dưới chiêu bài phù Lê diệt Mạc( Lúc này là đổi họ Nguyễn Hữu)

Tất cả các dòng họ trước đây Lê – Lưu – Đinh – Nguyễn là dân đinh đều phải ở ngoài Thành trừ một số công thần của Chúa Nguyễn, bởi thế lực gia đình ông Huống rất lớn mà dân địa phương lúc đó không dám gọi tên mà nói là “của ông Hóng”, “giàu như ông Hóng”, “nói như ông Hóng”…nhất là khi có lăng mộ của Bà Mạc Thi Giai ở Chiêm Sơn, mỗi lần Chúa, hay quan đến thăm Lăng Bà thì phải qua Tư Dinh của Mạc Cảnh Huống và không được đi ngựa, kiệu. Ông đặt tên cho xóm này là Hoan Châu để nhớ về vùng đất Hoan Châu và của cuộc khởi nghĩa Hoan Châu như đã trình bày trên. Phải chăng ông còn nuôi tham vọng phục hưng Triều Mạc?!

tải xuống (4)

Chùa Thanh Tịnh ngày nay (Chùa Trà Kiệu)

Qua thời gian, từ Hoan Châu biến âm thành Hòn Châu, Hoàn Châu, rồi Hoàng Châu cho đến ngày nay.

Trong gia tộc họ Mạc Cảnh Huống (Nguyễn Trường) cũng có nhiều biến động doVợ Quan Trấn Thủ Phú Yên là Mạc Cảnh Vinh ( Nguyễn Phước( hữu) Vinh con trưởng của Mạc Cảnh Huống là công chúa Ngọc Liên – trưởng nữ của Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên đã lãnh nhận bí tích rửa tội theo đạo công giáo năm 1636 với thánh hiệu là Maria Mađalena cùng với 50 người trong Hoàng tộc trong khi đó Chúa Thượng (Nguyễn Phước Lan, 1635-1648)  đã có Sắc Chỉ năm 1639 và 1644 về việc cấm đạo, nhưng lúc này Công chúa Ngọc Liên theo chồng làm quan trấn thủ Phú Yên. Nơi đây bà đã tổ chức Lễ rửa tội cho Á Thánh Andre Phú Yên[3].

Đến năm 1639  Đại NamThực lục viết: “Vợ lẽ cố Hoàng tử Kỳ là Tống Thị vào yết kiến. Tống Thị có vẻ xinh đẹp, khéo ứng đối, từng nhân việc vào ra mắt, đem tình trạng đau khổ kêu xin và xâu một chuỗi (ngọc) bách hoa để dâng. Và từ đó gian díu với em chồng là Nguyễn Phước Lan. Đó là  một người đàn bà có một không hai trong lịch sử, một người gian dâm gieo hoang tàn trong phủ chúa, giết hại người vô tội. Sự loạn luân của Tống Thi trước đạo đức mẫu mực của Công Chúa Ngọc Liên làm cho Tống Thì tức tối đã khích Nguyễn Phúc Lan bắt bà vào cuối năm 1663, bà bị bắt cùng với một số đông giáo dân tỉnh Quảng Nam. Trong số 100 người, tất cả đều chối đạo trừ 5 phụ nữ trong đó có bà Maria, 4 người là thường dân thì bị voi dày, còn bà vì thuộc huyết thống nhà chúa nên người ta nhốt bà để cho bà chết đói chết khát., nhưng rồi vì khát quá bà đã xin gặp quan trấn và bà đã chối đạo.  Năm 1665 bà mất do trọng [4]

Sau nạn dâm nữ Tống Thị và sự phản đối mảnh liệt của gia đình Mạc. Gia đình Mạc Cảnh Huống bị ruồng rẽ, các tộc họ trong làng nổi lên chống phá dưới chiêu bài Phù Lê diệt Mạc .Một số bà con thân tộc học Mạc theo Mạc Cảnh Huống vào Nam  theo đạo đều tìm cách đổi họ, phần đông là họ Huỳnh ( chữ Hán gần gống chữ Mạc), và di cư lên miền núi, hoặc đổi họ thàng Nguyễn Đăng, Nguyễn Bá… Hiện nay tại xóm công giáo Cồn Dầu Đà Nẵng có họ Huỳnh thuộc họ Mạc. Từ đây dòng học Mạc Cảnh Huống bắt đầu suy thoái. Năm 1677 Mạc Cảnh Huống qua đời hưởng thọ 135 tuổi với Phật hiêu “ Thuyền Cảnh Chân Tu”  (Bậc chân tu của con thuyền chở hoàn cảnh)


[1]

Theo tài liệu của Cha Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes)

[2] Chùa này đặc biệt là Trụ tri luôn là nữ giới, Nam giới trụ trì thường phạm giới và hoàn tục.

[3] Tài liêu Công giáo “Người làm chứng thứ nhất”

[4] Có lẽ hợp lý hơn khi trong gia phả Nguyễn Trường (chép lại năm Minh Mạng 13)  ghi là bà mất cùng chồng do ngư lôi nổ trong quá trình đi thị sát đầm Ô Loan) Vì trong gia phả có đoạn:

“Đến năm Khánh Đức 4 (Nhâm Thìn), Chúa Hiền Nguyễn Phước Tần sai Trấn Biên dinh Thanh Lộc hầu Nguyễn Phước Vinh đem binh tướng vào Đồng Nai với danh nghĩa “đón Giao Ba, diệt Xí Nhật”. Vợ Xí Nhật bèn giết chết Xí Nhật (Xí Nhật là anh rể Giao Ba), đón em Giao Ba lên ngôi. Chiêm Thành thấy binh mã của Chúa Nguyễn hùng mạnh nên phải bó tay xưng thần, không dám động binh. Thế là Chúa Nguyễn đã thành công đối với cả hai nước Chiêm Thành và Cao Miên. Năm Quý Tỵ (1653), Trấn Biên dinh Thanh Lộc hầu Nguyễn Phước Vinh trở về lại triều. Năm sau, Giáp Ngọ (1654), ngày 3 tháng Giêng ông qua đời, hưởng thọ 76 tuổi. Ông và bà Nguyễn Thị Ngọc Liên sinh hạ được một trai là Đội trưởng Toàn Trung hầu Nguyễn Phước Tao. Nguyễn Phước Tao lấy bà Nguyễn Thị Quyết sinh hạ ra Đội trưởng Huề Nguyễn Phước Lân. Nguyễn Phước Lân lấy bà Lê Thị Hán sinh hạ Chánh đội trưởng Nguyễn Trường Phương….”

Tháng 12/2012

Đăng tải tại Uncategorized | Bình luận về bài viết này

BAN LIÊN LẠC TỘC MẠC VÀ GỐC MẠC QUẢNG NAM ĐÀ NẴNG HỌP MẶT ĐẦU NĂM

BAN LIÊN LẠC TỘC MẠC VÀ GỐC MẠC QUẢNG NAM ĐÀ NẴNG

HỌP MẶT ĐẦU NĂM

 

Ngày 24 tháng 2 năm 2013 tại Thành Phố Đà Nẵng Ban Liên lạc( BLL) Tộc Mạc và gốc Mạc Quảng Nam Đà Nẵng ( QNĐN) đã tổ chức họp mặt đầu năm. Đến dự có đầy đủ thành viên của BLL và Ban cố vấn, tham gia cuộc họp còn có chi họ Hoàng gốc Mạc Quế Phú Quế Sơn tỉnh Quảng Nam tham dự lần đầu.

DSC07747

Thay mặt Ban Liên lạc Ông Lê Đăng Quế phó ban liên lạc đã báo cáo tình hình hoạt động của năm 2012. trong đó có những mặt đã làm được và chưa làm được.

–         Những công việc đã làm được:

+ Kết nối, tìm hiểu các chi họ gốc Mạc trên địa bàn Quảng Nam và Đà Nẵng như chi họ Huỳng Đắc, Huỳnh Kim ở Hội an, chi họ Huỳnh Đăng, Lê Đăng ở Điện Bàn, chi họ Hoàng ở Quế Sơn

+ Tham gia dự đại hội tộc Mạc tại thành phố Hồ Chí Minh

+ Tham gia các lễ giỗ tế tự của các chi họ tộc họ Mạc và gốc Mạc.

–         Những công việc chưa làm được:

+ Chưa hoàn thành đề tài nghiên cứu về Tộc Mạc và các chị họ gốc Mạc trên địa bàn QNĐN.

+ Công tác tuyên truyên thong tin trên trang web còn yếu thiếu bài viết.

–         Khó khăn : kinh phí hoạt động rất hạn chế, dẫn đến các hoạt động của BLL chưa thường xuyên và chưa đạt các mục tiêu đã đề ra.

–         Phương hướng đến:

+ Kiện toàn và nâng cấp trang web mactocquangnamdanang.wordpress.com Tăng cương tham gia viết bài đăng trên các trang web.

+ Dự kiến đại hội đại biểu lần 2 vào ngày 22 tháng 8 năm 2013.

+ Tăng cường hoạt động công tác gây quỹ và ổn định quỹ để có kinh phí hoạt động thường xuyên, trước mắt vận động các chi tộc đóng góp và kêu gọi lòng hảo tâm của các cá nhân đóng góp nhằm để có có một số tiền để hoạt động lâu dài.

Cũng trong buổi họp đầu năm này, ban liên lạc đã vận động một số cá nhân và tập thể đóng góp được một số kinh phí như sau:

–         Chi tộc Nguyễn Trường Duy Xuyên 1.000.000đồng

–         Ông Mạc Như Giác                            2.000.000đồng

–         Bà Nguyễn thị Liên                            2.000.000đồng

–         Ông Trần Văn Hoà                             2.000.000đồng

–         Ông Thái Nghĩa                                  1.000.000đồng

–         Ông Mạc Như Chung                          1.000,000đồng

–         Ông Huỳnh Phương Bá                           500.000đồng

–         Ông Huỳnh Đăng Chúc                           500.000đồng

–                                                     TC. 10.000.000đồng

Với số tiền ban đầu đã vận động được, còn qua ít so với dự kiến vì vậy Ban liên Lạc tiếp tục kêu gọi sự hảo tâm nhiệt tình của các chi họ và cá nhân tiếp tục đóng góp nhằm có đủ một số tiền để hoạt động sinh lãi , và chỉ sử dụng số lãi để hoạt động ( không dùng đến vốn)

 

                                Đà Nẵng ngày 25 tháng 2 năm 2013

                                          Mạc Như Chung

DSC07762

Đăng tải tại Uncategorized | Bình luận về bài viết này

Khu tưởng niệm Vương Triều nhà Mạc lớn nhất Việt Nam

Khu tưởng niệm Vương Triều nhà Mạc

Thôn Cổ Trai, xã Ngũ Đoan, huyện Kiến Thụy, Tp.Hải Phòng

 

Khu tưởng niệm Vương Triều nhà Mạc lớn nhất Việt Nam

 

Nhà tưởng niệm Vương triều Mạc – nơi lưu giữ thanh bảo đao 500 tuổi

Toàn cảnh sân khu tưởng niệm

Trong Điện có thờ THÁI TỔ MẠC ĐĂNG DUNG

(TÓM TẮT TIỂU SỬ)

Mạc Đăng Dung (莫登庸), sinh giờ ngọ, ngày 23 tháng 11 năm Quý Mão (1483). Ông là người làng Cổ Trai, huyện Nghi Dương (nay là huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng). Mạc Thái Tổ (chữ Hán: 莫太祖 mất ngày  22/8âm lịch năm 1541.

 

(Tượng Thái tổ Mạc Đăng Dung tại Từ đường Cổ Trai – Hải Phòng)

 

“Mạc Đăng Dung là cháu 7 đời của trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi thời Trần. Theo Toàn thư và Đại Việt thông sử, Mạc Đăng Dung là người xã Cao Đôi (Đông Cao theo Cương mục), huyện Bình Hà (nay là thôn Long Động, xã Nam Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương), tổ tiên ông là Mạc Đĩnh Chi, trạng nguyên triều Trần. Đĩnh Chi sinh ra Cao (Dao theo Cương mục), Cao sinh ra Thúy (Túy theo Cương mục), Thúy sinh ra Tung, dời sang ở xã Lan Khê, huyện Thanh Hà, Hải Dương rồi sinh ra Bình, Bình lại dời sang xã Cổ Trai, huyện Nghi Dương rồi trú tại đó. Bình sinh ra Hịch, Mạc Hịch lấy con gái Đặng Xuân là Đặng Thị Hiếu người cùng làng Cổ Trai sinh được ba con trai, con trưởng là Đăng Dung, con thứ là Đăng Đốc (Đốc Tín), con út là Đăng Quyết”

Mạc Đăng Dung hồi nhỏ làm nghề đánh cá, lớn lên có sức khoẻ, đỗ lực sĩ xuất thân, được sung vào quân túc vệ của nhà Hậu Lê đời Lê Uy Mục.

Năm 1508, Đoan Khánh năm thứ 4, vua Lê Uy Mục giao cho ông làm Thiên vũ vệ đô chỉ huy sứ ty đô chỉ huy sứ. Năm 1511, Hồng Thuận năm thứ 3, vua Lê Tương Dực thăng ông làm Đô chỉ huy sứ tước Vũ Xuyên bá.

Triều Lê suy yếu, các tướng chia bè phái đánh lẫn nhau, bên ngoài nông dân nổi dậy khởi nghĩa, mạnh nhất là lực lượng Trần Cảo. Cảo đánh chiếm kinh thành Thăng Long, các tướng gác mâu thuẫn cùng đánh dẹp. Đến khi Trần Cảo rút đi, các tướng lại chia bè phái đánh nhau. Nguyễn Hoằng Dụ (con Nguyễn Văn Lang) đánh nhau với Trịnh Tuy. Tuy thua chạy về Tây Đô (Thanh Hoá). Trần Chân về phe với Tuy đánh đuổi Hoằng Dụ, nắm lấy quyền trong triều.

Mạc Đăng Dung thấy uy quyền của Chân lớn liền kêt thông gia với Chân, cho con gái Chân lấy con trai cả mình là Mạc Đăng Doanh.

Năm 1518, Lê Chiêu Tông nghe lời gièm pha, sợ quy quyền của Trần Chân nên sai người giết Chân. Thủ hạ của Chân là Nguyễn Kính nổi loạn. Bấy giờ Đăng Dung đang trấn thủ Hải Dương. Chiêu Tông bèn triệu Mạc Đăng Dung và Nguyễn Hoằng Dụ về cứu giá. Hoằng Dụ đánh bị thua chạy về Thanh Hóa rồi chết. Đăng Dung một mình nhân cầm quân dẹp loạn mà nắm hết quyền bính…

Năm 1521, Mạc Đăng Dung chiêu hàng được Nguyễn Kính, dẹp được Trần Cung (con Trần Cảo), quyền thế át cả Chiêu Tông. Chiêu Tông sợ chạy ra ngoài gọi quân Cần vương. Đăng Dung bèn lập em Chiêu Tông là Xuân lên ngôi, tức là Lê Cung Hoàng, tuyên bố phế truất Chiêu Tông…

Năm 1523, Mạc Đăng Dung nhân phe Chiêu Tông yếu thế, điều quân đánh Thanh Hoá. Năm 1524, Trịnh Tuy thua trận bỏ chạy rồi chết. Đăng Dung được phong làm Bình chương quân quốc trọng sự thái phó Nhân quốc công…

Năm 1527, ông được phong làm An Hưng Vương. Các đối thủ đều bị dẹp yên, không còn ai ngăn trở, tháng 6 năm 1527, Mạc Đăng Dung lên ngôi, lập ra nhà Mạc. Chiếu nhường ngôi của Lê Cung Hoàng cho Mạc Đăng Dung có đoạn viết: “Từ cuối đời Hồng Thuận gặp lúc Quốc gia nhiều nạn, Trịnh trung lập kẻ nghịch lên ngôi, lòng người lìa tan, trời cũng không giúp, lúc ấy thiên hạ đã không phải của nhà Lê vậy. Ta (Cung đế) bạc đức nối ngôi không thể gánh nổi, mệnh trời và lòng người hướng về người có đức. Vậy nay Thái Sư An Hưng Vương Mạc Đăng Dung là người trí đức, tư chất thông minh, đủ tài văn võ, bên ngoài đánh dẹp, bốn phương đều phục, bên trong trị nước thiên hạ yên vui, công đức rất lớn lao, trời người đều qui phục, nay theo lẽ phải nhường ngôi cho…”

Ông lên làm vua từ ngày 15 tháng 6 âm lịch năm 1527 đến hết năm 1529 với niên hiệu Minh Đức. Sau đó, học theo nhà Trần, nhường ngôi cho con là Mạc Đăng Doanh (tức Mạc Thái Tông) để lui về làm Thái thượng hoàng.

Năm 1540, Mạc Thái Tông mất, Mạc Đăng Dung lập cháu nội là Mạc Phúc Hải lên ngôi, tức là Mạc Hiến Tông.

Vợ của Hoàng đế Mạc Đăng Dung là Hoàng hậu NguyễnThịNgọcToàn.

“Các con của Ngài gồm có:

Hoàng Thái tử MẠC ĐĂNG DOANH

Hoàng tử MẠC CHÍNH TRUNG

Hoàng tử MẠC PHỤC SƠN

Hoàng tử MẠC NHÂN PHỦ

Hoàng tử MẠC QUANG KHẢI

Hoàng tử MẠC NHÂN QUẢNG

Hoàng tử MẠC ĐẠI ĐỘ

Công chúa NGỌC THỌ

Công chúa NGỌC CHÂU

Công chúa NGỌC QUANG

Công chúa NGỌC TƯ”.

(Theo Hợp biên Thế phả họ Mạc)

Năm 1541, Thái tổ Mạc Đăng Dung qua đời, ngày  22/8âm lịch năm 1541, thọ 59 tuổi.

Trước khi mất Ngài có để lại di chúc không làm đàn chay cúng Phật và khuyên Mạc Phúc Hải phải nhanh chóng về kinh sư để trấn an nhân tâm và xã tắc là trọng.

Trung tâm thư pháp – câu đối – hán nôm Hải Phòng

Các trò chơi dân gian – Thi đấu cờ tướng

Khu làm lễ trong dịp hội

CÁC VUA NHÀ MẠC ĐƯỢC THỜ TRONG  KHU TƯỞNG NIỆM VƯƠNG TRIỀU MẠC (tại Cổ Trai – Ngũ Đoan – Kiến thụy – Hải Phòng)

THỜI KỲ ĐÓNG ĐÔ Ở THĂNG LONG (từ 1527 đến 1592 = 65 năm)

Có tượng: Thái tổ – Nhân minh cao hoàng đế MẠC ĐĂNG DUNG, Thái tông – Khâm Triết Văn hoàng đế MẠC ĐĂNG DOANH, Hiến tông – Hiển hoàng đế MẠC PHÚC HẢI, Tuyên tông – Anh Nghị hoàng đế MẠC PHÚC NGUYÊN, Mục tông – Hồng Ninh hoàng đế MẠC MẬU HỢP.

THỜI KỲ HẬU THĂNG LONG – CAO BẰNG (từ 1592 đến 1677 = 85 năm)

Có bài vị: Vũ An Hoàng đế  MẠC TOÀN, Đường An Vương   MẠC KÍNH CHỈ, Đôn Hậu Vương MẠC KÍNH CUNG, Khánh Vương MẠC KÍNH KHOAN, Thuận Đức Vương MẠC KÍNH VŨ.

(Nhà Mạc từ 1527 đến 1592 = 65 năm ở Thăng Long và thời kỳ Cao Bằng từ 1592 đến 1677 = 85 năm, cộng lại tròn 150 năm.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng về dâng hương & nghe giới thiệu về khu tưởng niệm

Nơi đây còn lưu giữ một báu vật. Nó là vật biểu trương cho sức mạnh và sự thành công. Mà theo về thuyết tâm linh, nếu được tận mắt chứng kiến và chạm vào thì người đó sẽ có được sự “hưng phát về quyền lực”, sức mạnh về lý trí và sự thành công.  Đó chính là thanh Bảo Long Đao – chính là võ khí của Thái Tổ Mạc Đăng Dung. Người đã cùng với long đao xông pha chiến trận và “bách chiến bách thắng”. Đến nay tuổi đời của bảo vật này là trên 500 năm.  Đây cũng chính là một trong hai thanh đao nặng nhất thế giới với trọng lượng 25kg (trọng lượng hiện nay) và ước tính khi chưa bị han gỉ có thể nặng tới hơn 30kg…  Đây quả là một báu vật của quốc gia nói riêng và nhân loại nói chung.

Thanh bảo đao 500 tuổi – binh khí độc đáo thời nhà Mạc

Gian hàng giới thiệu của Công ty Mạc Trà Việt Nam

Trò chơi Leo Cây lấy thưởng

Các bạn trẻ tham gia rất nhiệt tình

Khu tiến hành các nghi lễ

Sân khu tưởng niệm

Các doanh nghiệp công đức

Trò Kéo co – Đẩy gậy

Thi đấu cờ tướng

Đoàn các bô lão dâng hương

Hội cổ vật Hải Phòng cúng tiến Lư hương thời Mạc

Từ xa du khách đã nhìn thấy biển chào đón của khu tưởng niệm

Nhà bia khu tưởng niệm

Khu tưởng niệm Vương triều nhà Mạc – công trình kỉ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội

Bài viết có liên quan đến Khu Tưởng niệm Thành nhà Mạc:

Bí ẩn Đại Long đao hơn 500 năm tuổi của Mạc Thái Tổ ở hải Phòng

Theo: youme.vn

Đăng tải tại Uncategorized | Bình luận về bài viết này

Bang Giao Của Vương Triều Mạc

Bang Giao Của Vương Triều Mạc

HOÀNG LÊ

 

Trong 65 năm của vương triều Mạc (1527 – 1592) việc bang giao chủ yếu là với phương Bắc. Còn phía Tây dường như không có vấn đề gì. Phía Nam thì có chúa Trịnh và Nguyễn. Mà với chúa Trịnh thì nhà Mạc muốn thôn tính để thống nhất. Ngược lại chúa Trịnh đối với nhà Mạc cũng vậy.
Đối với phương Bắc lúc đó là triều đại nhà Minh (Minh Thế Tông 1522 – 1566). Một triều đại đang suy tàn và nhà Thanh thay thế khi mà ở nước ta đang diễn ra cuộc chiến tranh giữa Trịnh và Nguyễn.

Như chúng ta đã biết: Đối với mỗi dân tộc, thời kỳ lập nước bao giờ cũng là một chặng đường lịch sử sôi động, trải qua không ít gay go, có biết bao vấn đề trọng đại đặt ra, từ việc xây dựng một nền kinh tế văn hoá giáo dục đến việc xây dựng những quy chế cho một chế độ chính trị xã hội và an ninh quốc phòng… Thế kỷ XVI, ở đất nước Việt Nam này không được ổn định: Các tập đoàn phong kiến Mạc – Lê – Trịnh, Nguyễn tranh chấp nội bộ. Từ Sơn Nam trở ra Bắc là lãnh địa của nhà Mạc, từ Thanh Hoá đến sông Linh Tích là lãnh địa của vua Lê chúa Trịnh và từ sông Linh Tích trở vào là thuộc chúa Nguyễn. Chiến tranh liên miên giữa các tập đoàn trên để thôn tính lẫn nhau đã làm khổ lụy cho nhân dân không nhỏ. Lúc bấy giờ nhà Minh ở phương Bắc cũng đang gặp những khó khăn nội bộ chưa trực tiếp đem quân xâm lược nước ta nhưng tham vọng bành trướng của họ thì chưa hết, nên khi nhà Mạc Đăng Dung lập lên vương triều Mạc (1527) nhà Lê đã có người sang kêu cứu bên Tầu để xin viện binh, vua nhà Minh liền sai quan đi đến Vân Nam cùng với quan tuần phủ sở tại tra xét thực hư, muốn nhân cơ hội đó mà sang làm sự chiếm giữ như khi trước sang đánh nhà Hồ vậy. Mạc Đăng Dung không phải là không biết ý đồ đó nên đã sai người sang tận Yên Kinh báo với nhà Minh rằng con cháu họ Lê không còn ai thừa tự nữa, thuộc sứ là họ Mạc tạm trông coi việc nước, nhưng vua nhà Minh không nghe. Mạc Đăng Dung phải lập mưu cắt đất dâng 2 châu Tuy Hoá và Thuận An (gọi tắt là Quy Thuận ở phía Bắc tỉnh Cao Bằng) và hình người bằng vàng và bạc cùng châu báu của lạ, vật lạ. Vua Minh thu nhận và dĩ nhiên không cất quân sang vấn tội nữa. Nào có biết đâu đất 2 châu ấy vốn dĩ là của mình từ xa xưa rồi. Sách Trung Quốc địa danh đại từ điển ghi như sau: Châu Quy Hoá là đất Vật Dương do Nùng Trí Hội nộp (1064), châu Thuận An là đất Vật Ác do Nùng Tôn Đản nộp (1087) từ đời nhà Tống. Hai châu có thời Lý đã từng cử Lê Văn Thịnh (trạng nguyên đầu tiên của nước ta 1075) tới trại Vĩnh Bình thương nghị việc biên giới và đòi nhà Tống trả lại (xem Thơ văn Lý Trần, tập I, NXB KHXH HN – 1977, tr.295).
Ngoài những tên đất đã thuộc Trung Quốc, còn lại là có tên mà không có đất. Khi biết rõ sự thực thì quân viễn chinh đã giải tán rồi không dễ gì triệu tập lại.
Năm Kỷ Sửu (1529) nhà Lê lại sai bề tôi là Trịnh Ngung, Trịnh Ngang sang tố cáo với nhà Minh nhưng cả hai người đều chết ở bên đó.

Đến năm Giáp Ngọ (1534) lúc này Mạc Đăng Dung đã thôi làm vua mà nhường ngôi cho con là Mạc Đăng Doanh để lui về Cổ Trai làm Thái Thượng Hoàng (bắt chước đời Trần) được 4,5 năm rồi. Lê Trang Tông là con ruột của Lê Chiêu Tông được Nguyễn Kim lập lên làm vua ở đất Sầm Châu (Lào) vào năm 1533, không có đất, không có dân lại cử Trịnh Duy Liêu sang nước Minh lần nữa tâu việc Mạc Đăng Dung “tiếm loạn” (chữ dùng của sử gia phong kiến) chiếm giữ kinh thành, ngăn trở đường đi, cho nên bỏ lâu việc tiến cúng.

Nhà Minh bèn sai Hàm Ninh Hầu Cừu Loan làm Tổng đốc quân vụ, Binh bộ Thượng thư Mao Bá Ôn làm Tham tán quân vụ đem quân sang đánh ta. Lại sai Hộ bộ thị lang Hồ Liễn và Cao Công Thiều đến trước Vân Quí và Lưỡng Quảng (Quảng Đông và Quảng Tây) điều quân lương. Đô đốc Thiêm sự Giang Hoàn và Ngưu Hoàn làm tả hữu Phó tổng binh, đốc quân đi chinh phạt, còn đại tướng thì chờ cử sau. Sách Minh sử chép: Bấy giờ đình thần nhà Minh ý kiến bất nhất nên việc ấy lại đình. Đến tháng 3 năm Gia Tĩnh thứ 17, đình thần mới bàn lại và vẫn như cũ. Lần nữa mãi đến năm Gia Tĩnh thứ 19 (1540) bọn Mao Bá Ôn mới đến Quảng Tây. Y hạch sách nhà Mạc nào đòi đất, cống người vàng và láo xược gửi sang triều đình nhà Mạc một bài thơ Vịnh bèo có ý khinh miệt nhân dân Việt như bèo bọt và có ý xỏ cả vua Mạc vì bèo chữ Hán là Bình mà Mạc Bình là ông nội của Mạc Đăng Dung. Triều đình Mạc phải cử Giáp Hải trạng nguyên khoa Mậu Tuất (1538) người làng Dĩnh Kế, huyện Phượng Nhãn (nay thuộc Lạng Giang, Hà Bắc) lên cửa Nam Quan tiếp sứ.
Công việc bang giao trong điều kiện lịch sử ấy thật khó khăn và phức tạp không như các sứ giả tiền bối đã làm trong giai đoạn cường thịnh. Mặt trận bang giao này có tầm quan trọng không nhỏ. Ngô Sĩ Liên nhà sử học thế kỷ XV đã viết: “Cuối cùng đánh được giặc mạnh, khiến chúng phải nguội lạnh cái lòng dòm ngó phương Nam, đó há không phải là binh lực mà thôi đâu”. Trong bộ Quốc Triều hình luật có điều quy định: “Đi sứ mà… làm nhục quốc thể thì phải tội đồ hoặc tội lưu”. Cho nên đi sứ, tiếp sứ ngày xưa thật là gian nan vất vả nhọc nhằn, là cuộc đấu trí, là sự thử thách trước sự đe doạ bức bách và cả lừa lọc của kẻ thù, chỉ một chút sơ hở là có thể phương hại đến quốc thể đến lân giao, thậm chí có thể làm bùng nổ hoặc dập tắt chiến tranh. Đã đi sứ, tiếp sứ, ai cũng phải hiểu sứ mệnh, quân mệnh, quốc mệnh là một. Phải cực kỳ thông minh ứng xử linh hoạt mà góp phần vào cuộc đấu tranh vì độc lập, chủ quyền của đất nước.

Trở về với bài thơ xướng của Mao Bá Ôn nguyên văn như sau:

Tuỳ điều trục thuỷ mạo ương châm
Đáo xứ khan lai thực bất thâm
Không hữu căn miêu, không hữu diệp
Cảm sinh chi tiết, cảm sinh tâm
Đồ tri tụ xứ ninh tri tán,
Đản thức phù thời ná thức trầm
Đại để trung thiên phong khí ác,
Tảo quy hồ hải tiện nan tầm.

Nghĩa là:

Bèo mọc trong ruộng nước nhơ như cái kim
Rễ bám vào đâu không ai biết, không ăn sâu
Bèo đã không gốc rễ, không có lá, không có cả cành
Tuy rằng họp lại đấy nhưng tan rã cũng rất nhanh
Chỉ một trận gió là tan tác
Nếu lại gặp phải khi trời xấu, bão gió
Thì quét một trận là ra hồ, ra bể không ai còn thấy vết tích nữa.
Ngạo mạn như thế đó, khinh dân ta hèn kém không có nguồn gốc, chỉ đánh một trận là tan tác như bèo.

Giáp Hải phải làm thơ hoạ lại với tư cách đại diện cho một đất nước, phải làm rạng rỡ uy danh cho Tổ quốc phải có bản lĩnh, có khí phách và tâm hồn dân tộc, và phải làm sao tránh cho đất nước một cuộc chiến tranh tàn khốc đang đe doạ, xua tan được những đám mây đen đang cuồn cuộn ở vùng biên… và bài thơ hoạ của ông như sau:

Cẩm lân mật mật bất dung châm
Đái điệp liên căn bởi kế thâm
Thường giữ bạch vân tranh thuỷ diện,
Khăng giao hồng nhật trụy ba tâm
Thiên trùng lãng đã thành nan phá,

Vạn trận phong suy vĩnh bất trầm
Đa thiểu ngư long tàng nghiễn lý,
Thái Công vô kế hạ câu tầm.

Tạm dịch:

Bèo kết lại với nhau dầy đặc như vẩy gấm,
Dù cái kim chui qua cũng không lọt,
Cành rễ liền nhau, mọc chằng chịt ăn rất sâu
Thường cùng đám mây trắng tranh vẻ đẹp trên mặt nước.
Và làm cho vầng hồng kia cũng không sao chiếu xuống được đáy nước.
Ngọn sóng dù lớn đến đâu cũng không phá nổi
Gió bão dù lớn tới đâu cũng không làm chìm nổi bèo
ở dưới có nhiều cá rồng ẩn núp
Dù tài câu thả của Lã Vọng cũng khó thả câu câu được.

Ngụ ý nói dân ta sống đông đúc như vẩy gấm dệt đoàn kết chặt chẽ, có thế độc lập của mình, không sợ ngoại xâm như bèo không sợ mây trời gió bão. Nhân tài, tài nguyên ta nhiều như rồng cá, dù cho kẻ địch có tướng giỏi như Khương Tử Nha nhà Chu (Còn gọi là Lã Vọng) cũng không làm gì nổi.

Qua bài thơ hoạ đó Mao Bá Ôn và Cừu Loan không dám tiến quân vào cõi nước ta.

Tháng mười, Mao Bá Ôn về Yên kinh tâu: Mạc Đăng Dung tự trói mình dâng lễ hàng ở cửa ải xin tuân theo chính sách, trả lại đất bốn động đã xâm chiếm, xin nội phụ xưng thần, hàng năm ban cho lịch đại thống, bù đủ số lễ vật cống hàng năm….

Ở Minh sử còn nói tỉ mỉ hơn: Đăng Dung đem cháu là Văn Minh cùng đầu mục bộ hạ 42 người vào trấn Nam Quan chân đất, bò rạp, dập đầu ở trước đàn để dâng biểu hàng.

Đó là sách của họ viết về Mạc Đăng Dung, không loại trừ cách nhìn khinh thị các vua của các nước nhỏ như họ vẫn thường gọi là “man di”. Giả thiết có thật chăng đi nữa thì cũng là sách lược của triều đình Mạc mà thôi. Mạc Đăng Dung lúc này có chấp chính đâu, là một ông già ở Cổ Trai, (Cháu Mạc Phúc Hải đã lên ngôi) thái độ nhún nhường mềm mỏng bên ngoài nhưng cứng rắn và nguyên tắc bên trong có thể nói là cách ứng xử khéo léo thích hợp nhất của ông cha ta xưa trong quan hệ bang giao.

Mao Bá Ôn không biết có nhận được bao tặng vật mà đã biện hộ hết lời cho Mạc Đăng Dung: “Nếu như xem Mạc Đăng Dung là kẻ có tội đầu hàng mà chưa có thể khinh xuất cho Tước và Đất thì cháu hắn là Mạc Phúc Hải hiện nay còn đợi lệnh. Nếu mang ơn cho tội thì hoặc có thể làm cho các chức Đô hộ Tổng quản theo như việc cũ của nhà Hán, nhà Đường. Mỗi năm Bố chính sứ ti Quảng Tây ban cho lịch Đại thống khiến đến trấn Nam Quan mà kính lĩnh. Còn lễ vật cống hiến về các năm trước bỏ thiếu thì tra xét bắt bù cho đủ, từ năm sau chia ra chiếu sổ thi hành. Còn như Lê Ninh tự xưng là con cháu họ Lê nhưng cứ theo các ti tra xét thì tung tích khó biến rõ ràng”. Trịnh Duy Liêu thì có ngầm đến động trại Thạch Lâm nước ấy, gần liền với tổ quan Quảng Tây, diện mạo của Lê Ninh thế nào không từng biết, cho nên hoặc gọi là Lê Ninh, hoặc gọi là Lê Hiến, hoặc gọi là Quang Chiếu, hoặc gọi là Quang Hoà, hoặc lại bảo là họ Trịnh trá xưng, mà Trịnh Viên thì nói rằng ở động Tất Mã tuy có Lê Ninh nhưng lai lịch tông phái không biết rõ, bầy tỏ sự tình, tuổi tác và nét mặt lại khác với lời báo trước của Trịnh Duy Liêu đều khó lấy làm bằng cứ. Hãy cho ở Tất Mã Giang mà chờ lệnh.

Nếu không phải là con cháu họ Lê thì bỏ đấy, không bàn đến nữa. Còn Trịnh Duy Liêu thì cho sở thuộc Quảng Đông tuỳ nghi cấp lương cho ruộng và nhà, đừng để phải bơ vơ. Xử nhân như thế ngõ hầu mới là chu tất.

Vua nhà Minh bèn phong cho Mạc Đăng Dung làm An Nam Đô thống sứ ty Đô thống sứ, cho ấn bằng bạc và cho thế tập.

Năm Nhâm Dần (1542), Mạc Phúc Hải đến trấn Nam Quan để được xét nghiệm và hội khám cùng nhận ban 1000 bản lịch đại thống của nhà Minh. Lại lĩnh một đạo sắc mệnh trước kia phong cho Mạc Đăng Dung và một quả ấn bạc.

Tháng tám năm ấy, vương triều Mạc sai Mạc Kính Điển, Nguyễn Công Nghi và Lương Giản sang nước Minh tạ ơn. Còn Nguyễn Chiêu Huấn, Vũ Tuân và Tạ Đình Quang thì sang cống năm. Tháng 12 năm ấy, nhà Minh phong Mạc Phúc Hải nối chức An Nam Đô Thống sứ ty, Đô thống sứ.

Những năm tiếp sau, triều đình Mạc vẫn sai sứ sang tuế cống, các sứ đoàn sang dâng cống hàng năm dường như ít có vấn đề khó khăn phức tạp nên sử ta không ghi hoặc ít ghi chép. Riêng có sứ đoàn sang cầu phong thường bị cật vấn, thử thách, thậm chí còn bị giam giữ như phái đoàn của Lê Quang Bí được cử đi vào năm Mậu Thân (1548) có lẽ là đi cầu phong cho Mạc Phúc Nguyên. (Mạc Phúc Hải mất tháng 5 năm Bính Ngọ – 1546. Con là Mạc Phúc Nguyên mới lên nối ngôi). Nhà Minh ngờ là giả dối đã giam ông ở Nam Ninh 19 năm liền. Đến năm Bính Dần (1566) thì Mạc Phúc Nguyên cũng đã chết cách 5 năm rồi, vua Minh Thế Tông cũng vừa mất, ông mới được trả tự do và cho về cố quốc. Nhà Mạc sai Lại bộ Thượng thư Đông các đại học sỹ Kế Khê bá Giáp Hải và Đông các hiệu thư Phạm Duy Quyết lên địa đầu Lạng Sơn đón ông. Mạc Mậu Hợp khen ông người tiết nghĩa phong tước Tô quận công ý muốn ví ông như Tô Vũ đời Hán (TQ) cũng đi sứ Hung nô và bị giam giữ suốt 19 năm mới được về.

Lê Quang Bí người làng Mộ Trạch huyện Đường An (nay thuộc xã Tân Hồng, huyện Bình Giang – Hải Hưng) là con của Trạng nguyên Lê Nại. Ông đỗ Hoàng giáp niên hiệu Thống Nguyên (1527) năm 21 tuổi, làm quan cho nhà Mạc. Khi đi sứ ông có tập Tư hương vân lục trong đó có bài ca ngợi Lê Cảnh Tuân tác giả Vạn ngôn thư một nhân vật lịch sử của thế kỷ XV là tổ bốn đời của Lê Quang Bí ông tổ này bị nhà Minh bắt giam ở ngục Kim Lăng (TQ) 6 năm liền và chết trong ngục. Bài thơ đó có câu:

… Nỗ lực quên mình chung một dạ
Ân cần lo nước sách ba phương
Cương thường tự gánh ngoài không kể
Nồi vạc xem khinh chết cũng thường
Trung nghĩa báo đền con cháu mãi
Trời Nam sự nghiệp tiếng nhà vang.

Trên mặt trận bang giao của thế kỷ XVI này (hay của vương triều Mạc nói riêng) có biết bao “chiến sỹ” lỗi lạc tài ba, đã phát huy một cách chủ động truyền thống độc lập tự cường của ông cha, xứng đáng với Tổ quốc, với nhân dân trong vai trò trực tiếp đi sứ của mình và cũng để lại cho đời hoặc ít hoặc nhiều thơ văn chứa chan tình cảm yêu nước, thương nhà, tự hào dân tộc như Giáp Hải, Lê Quang Bí đã nói trên; hoặc chưa nói đến như Đào Nghiễm (Tiến sỹ 1523) Hứa Nam Tỉnh; (Bảng nhãn 1508); Nguyễn Giản Thanh (Trạng nguyên 1508; Vũ Hữu (Hoàng Giáp 1463); Vũ Cận (Tiến sỹ 1556)v.v… Có biết bao nhiêu giai thoại bang giao, hàng loạt chuyện đi sứ, tiếp sứ được dân gian hóa lưu truyền mãi mãi để khẳng định thành tích ngoại giao, đề cao tài trí thông minh của một dân tộc. Thơ văn bang giao là một đóng góp đáng kể vào sự phát động của văn học dân tộc.

__________________________________________


Đăng tải tại Uncategorized | Bình luận về bài viết này

CẦN “PHỤC THỦY” TÊN GỌI CŨ

         CẦN “PHỤC THỦY” TÊN GỌI CỦ

 (Sơ thảo III)

GS.TSKH. Phan Mạc Đăng Nhật

 

“Tứ bách niên tiền, chung “phục thủy”

Thập tam thế hậu, dị nhi đồng”[1]

(Bốn trăm năm trước, cuối cùng trở lại như ban đầu

    Mười ba đời sau, khác biệt mà vẫn cùng chung                                             -Hoàng Lê dịch)

 1.Vai trò, nhiệm vụ của tên gọi các dòng họ

Vào cuối  thời kỳ thời kỳ nguyên thủy, bắt đầu xuất hiện những yếu tố của xã hội văn minh (chữ của Ăng ghen) như: xuất hiện quyền tư hữu, vai trò của cá nhân,…hơn nữa lại cần có những người giàu có và  những cá nhân anh hùng xuất chúng. Vào thời kỳ đó con người bắt đầu có tên riêng. Và khi các thị tộc, bộ lạc mở rộng quan hệ, tiếp xúc với nhau; để phân biệt,  tên họ xuất hiện. Đối vói người xưa, tên họ cần thiết trước hết để tránh loạn luân, để bảo đảm chặt chẽ, nghiêm túc chế độ hôn nhân ngoại tộc (không lấy nhau trong họ, mà phải kết hôn ngoài họ).

Nói chung, mỗi họ có một tên họ. Trong họ có nhiều chi, thường mỗi chi có một tên lót để phân biệt các chi khác. Trên đây là nguyên tắc, tuy nhiên trong thực tế nhiều khi lẫn lộn, trùng lặp.

Lại cũng có trường hợp đặt tên theo công thức “phụ tử liên danh”. Hoặc “ mẫu tử liên danh”. Ví dụ người Mơ nông (Tây Nguyên), dùng tên mẹ để phân biệt  cá nhân. Có nhiều tên Ndu như Ndu Kon Puh (= chàng Ndu con của mẹ Puh), Ndu Kon Trook (=chàng Ndu con của mẹ Trook), Ndu Kon Rông, Ndu Kon Kong, Ndu Kon Bung…; Yang thì có Yang Kon Rung (=chàng Yang con của mẹ Rung ), Yang Kon Khir (=chàng Yang con của mẹ Khir), Yang Kon Puh, Yang Kon Trook, Yang Kon Koong, Yang Kon Sol, Yang Kon Phan,…Đây là cách đặt tên họ theo “mẫu tử liên danh”.

Tên  họ là một hiện tượng phổ quát, là một tín hiệu ngôn ngữ (hoặc văn tự) rất cần thiết để phân biệt các dòng họ, qua đó tập hợp, đoàn kết các dòng họ, giáo dục ý thức cội nguồn, bồi dưỡng gia phong, động viên tham gia đóng góp xây dựng cộng đồng.

Tóm lại, tên họ là một biểu hiện riêng có của loài người , ra đời từ thời nguyên thủy, có vai trò quan trọng trong đời sống và sinh hoạt của các họ

2.Trường hợp không  bình thường của họ Mạc-hiện không có tên gọi riêng

       Theo TS Hoàng Lê, “cho đến 12-1995 Ban liên lạc họ Mạc ở Hà Nội đã nhận được từ 22 tỉnh là 119 chi họ”[2]và cũng theo ông có những chi họ sau đây đã được xác minh là gốc Mạc:

-Họ Phạm ở 3 tỉnh: Hải Hưng, Hà Bắc và Nam Hà

-Họ Lều ở Nhị Khê, Thường Tín, Hà Tây

-Họ Bùi ở Thường Tín, Hà Tây

-Họ Nguyễn ở 3 tỉnh: Hải Hưng, Hà Tây, Thái Bình

-Họ Hà ở Thái Bình

-Họ Vũ ở Thái Bình

-Họ Lê Đăng ở Hà Bắc

-Họ Thạch ở Hà Nội

-Họ Hoa ở Hải Phòng

-Họ Hoàng ở 5 tỉnh: Hà Tây, Nam Hà, Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình

-Họ Phan ở Nghệ An

-Họ Thái ở Nghệ An

-Họ Mạc ở 2 tỉnh: Hải Hưng, Hảỉ Phòng

-Họ Bế ở Cao Bằng

-Họ Ma ở Cao Bằng

-Họ Đoàn ơ Hà Bắc[3]

Con số trên đây được tính từ 1995, đến nay số lượng nắm được có thể thay đổi, nhưng tình trạng chung là , trừ một vài trường hợp đặc biệt, con cháu họ Mạc không có một tên họ thống nhất mà phải che dấu dưới nhiều tên họ khác như : Phạm, Lều, Bùi , Nguyễn, Hà, Vũ, Lê, Thạch, Hoa, Hoàng , Phan, Thái, Bế, Ma, Đoàn,…Có thể gọi đây là họ mượn, phân biệt với họ gốc.

Đây là một trường hợp bất bình thường, hậu quả của một thời kỳ lịch sử bi ai mấy trăm năm trước.

      Năm 1592, nhà Mạc thất thủ Thăng Long, họ Trịnh thi hành chiến dịch truy sát nhà Mạc thảm khốc: Lê quý Đôn viết trong Đại Việt thông sử : “Bình An vương Trịnh Tùng giết hết bọn ngụy đảng, đem quân phá hết cung điện ở Cổ Trai, hủy bia ở mộ, chặt hết cây trồng trong lăng. Đó là sự truy phạt vậy.”

Trịnh Tùng đã thường xuyên giết hàng 100, hàng nghìn người họ Mạc, liên tuc, nhiều đợt, trong nhiều năm liền.

Xin cử hai trong những trường hợp tiêu biểu :

-Đánh phá giết 2000 người: “Ngày 23- 2 năm Quý Tỵ (1593),Tiết chế Trịnh Tùng sai các tướng chia quân đánh phá, chém được hơn vài nghìn thủ cấp, bọn đảng ngụy tan chạy, các châu huyện đều dẹp yên cả”[4]

-Cả làng bị giết sạch trong một đêm, đó là làng Hậu Tái, huyện Quỳnh Phụ, Thái Bình. Sở dĩ có tên gọi này vì trai làng đã giúp nhà Mạc đánh chiếm lại Thăng Long thắng trận. Đêm khuya, quân Trịnh kéo đến vây kín làng không cho một ai chạy thoát, giết sạch kể cả con trẻ, người già, đàn bà có thai. May mà có 18 người , có công việc ra khỏi làng đêm đó, sống thoát , cùng nhau lập lại làng (=hậu tái)

Trước tình trạng trên, để giữ lấy dòng tộc, tránh nguy cơ bị tuyệt diệt, họ Mạc chủ trương đổi họ thay tên, “mai danh ẩn tích”. Đây là một sáng tạo của tổ tiên, nhờ nó mà họ Mạc vẫn phát triển mạnh như ngày nay. Tuy “ẩn tích mai danh”, nhưng tổ tiên vẫn tìm mọi biện pháp để con cháu nhận ra nhau. Các Cụ quy định và truyền lại các quy ước đổi họ

Các quy ước thay đổi họ

          Có mấy quy ước sau đây:         

1.Khử túc bất khử thủ:

Lều, Hoàng , Vũ, Phạm, Bùi, Phan, Thái, Thạch, Hoa Hoàng,   như trên…

Dầu có thay đổi vẫn giữ bộ thảo đầu ở phía trên chữ (chữ Hán)

2.Đệm chữ Đăng: Lê Đăng, Nguyễn Đăng, Phan Đăng, Trần Đăng,…

3.Mật hiệu trên chữ viết

-Câu đối đền thờ cụ Mạc Mậu Giang, Yên Thành: “Tổ ấm Đại đồng, thực lại nhất thành Chân Cảm. Gia  đình Yên Lạc bằng tiên tổ Chí Linh”. Tương truyền đây là câu đối cụ tổ Mạc Mậu Giang để lại, trong đó có các mật danh để con cháu tìm ra những nơi phân ly và quê tổ: Đại Đồng, Chân Cảm, Yên Lạc, Chí Linh.

-Câu đối đền thờ họ Vũ, Thái Bình: “Phiệt duyệt gia thanh Trần triều Mạc trạng nguyên chi hậu. Nguyên lưu thế phả , Đông  Hải, Thanh Hà huyện dĩ lai” ; dấu kín ở sau lớp vôi tường của từ đường họ Vũ –Mạc ở Thái Bình

-Hoành phi “Tiên tổ thị hoàng”, có ở họ Phan Đăng- Hà Tĩnh, họ Hoàng Văn  ở Đại Yên (Hà Nội) ở họ Nguyễn Đăng (Thạch Thất) họ Hoàng Thế ở Mê Linh, (Hà Nội)…

4. Mật hiệu trên hiện vật

-Cái đĩa cưa 4 ở họ Nguyễn-Mạc, Tiên Lữ, Lập Thạch; được chia cho 4 chi anh em để sau khi thất tán, tìm lại nhau

5. Truyền khẩu

-“Cải Mạc vi Phương”, (họ Phương-Mạc ở Hà Tây)

-“Sinh Hoàng tử Mạc”, (họ Hoàng-Mạc ở Kinh Môn)

6.Lời văn trên gia phả:

-“Họ ta vốn gốc họ Mạc”(họ Ngô-Mạc ở Vĩnh Phúc)

-“Thủy tổ họ ta là Mạc quý công, húy Toàn”(họ Hoàng-Mạc ở Kinh Môn)

-….

Tóm lại, trong tình thế bất khả kháng, họ Mạc phải đổi họ , nhưng người xưa vẫn mong cho con cháu nhận ra nhau và tha thiết mong có ngày:

“Tứ bách niên tiền chung phục thủy

Thập tam thế hậu, dị nhi đồng

“Phục thủy” và “biến dị nhi đồng” có nhiều nội dung phong phú . Đây xin nêu một nội dung là thống nhất tên họ, trở lại như xưa.         

Ngày nay tình hình đã khác với mấy trăm năm trước, dưới ánh sáng đổi mới của Đảng,  các nhà khoa học có công tâm đã không ngừng tìm tòi nghiên cứu nhằm thực hiện “công minh lịch sử, công bằng xã hội”, đã nhận định, đánh giá lại đóng góp và công lao của nhà Mạc một cách vô tư , khách quan:

-“Nói tóm lại, với 65 năm tồn tại và phát triển, nhà Mạc đã có cống hiến nhất định vào lịch sử dân tộc. Công lao dựng nghiệp của Mạc Đăng Dung đối với nhà Mạc là lớn lao và sự nghiệp dựng nước của nhà Mạc đã được sử sách ghi nhận. Hậu thế chúng ta cần trân trọng và phát huy.” (GS Văn Tạo)

-“Nếu Dương Kinh của nhà Mạc được xây dựng thành công, nếu nhà Mạc được tồn tại lâu dài hơn nữa, thì Đại Việt lần đầu tiên có kinh đô cảng, công thương nghiệp miền Hải Dương và cả nước phát triển mạnh mẽ hơn và chắc chắn trong lòng  xã hội quân chủ quan liêu đã nẩy sinh được những nhân tố mới của một của một phương thức sản xuất mới, kinh doanh mới, quản lý mới,…” (GS Trần Quốc Vượng)

3. Kết luận và kiến nghị: trở lại như cũ và bình thường như trăm họ-“phục thủy”

 

            1.Hiện nay họ Mạc không có một tên gọi chung, hay nói cách khác là kông có họ. Đây là một hiện tượng bất thường, so với trăm họ khác .

 

2.Việc “thay đổi họ” là một sáng kiến của các bậc tiên tổ, trong hoàn cảnh lịch bức bách thời bấy giờ. Nhưng tình trạng đó cũng gây ra nhiều bất tiện khó khăn và không hợp với lẽ thông thường của các dòng họ. Ngày nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng với đường lối đổi mới, quan niệm xã hội đã thay đổi nhiều, không có lý do để “mai danh ẩn tích” mãi, “giữ mãi trên mình thương tích” của thời kỳ lịch sử đau đớn,bi thương đã đi qua  6 thế kỷ .

Do đó  , chúng tôi đồng ý với một số chi họ đã đề nghị dần dần phục hồi họ Mạc theo các mức độ sau đây:

 

-“Sinh (Hoàng, Phạm…) tử Mạc”, khi chết ghi rõ họ Mạc

-Đối với các cháu mới sinh: chuyển Mạc từ khi khai sinh

-Những người đã có họ mượn, không phải họ gốc, có hai trường hợp:

+Văn bản pháp lý: vẫn sử dụng họ mượn

+Văn bản  ngoài pháp lý như bút danh, bí danh, tên hiệu, tên trong sổ họ,.., thì thêm tên lót Mạc , Ví dụ: Hoàng Mạc Thế Hợi, Hoàng Mạc Thế Dũng, Phan Mạc Đăng Nhật,….

3.Việc “phục thủy” thường găp những trở ngại chính sau đây:

-chưa thật rõ gốc Mạc,

-còn mặc cảm về tổ tiên do ảnh hưởng của giáo dục cũ,

-…

Do đó cần bảo đảm mấy nguyên tắc:

– hết sức tự nguyên và từ tốn,

-có thể tiến hành dần trong một số năm.

-bắt đầu từ chủ trương của các chi họ.

Trên đây mới là sơ thảo, chờ xin ý kiến các Cụ, các Cô Bác, các cháu.

 

                                                   Xin trân trọng cám ơn


[1] Câu đối cổ ở nhà thờ họ Lều-Mạc , Thường Tìn, Nhị Khê

[2] Hoàng Lê: Việc cải đổi tính danh của họ Mạc, trong sách “Nhà Mạc và dòng họ Mạc trong lịch sử”, 1996, tr.441.

[3] Hoàng Lê: sách đã dẫn tr.437-441.

[4] Đại Việt sử ký toàn thư,tập 3,  BXB Khoa học xã hội, H, 1998, tr.182.

Đăng tải tại Uncategorized | 1 bình luận

Mạc Cảnh Huống, từ một thái tử đến vị Phật sống

Mạc Cảnh Huống, từ một thái tử đến vị Phật sống

 

CHUYỆN XƯA XỨ QUẢNG
Mạc Cảnh Huống, từ một thái tử đến vị Phật sống

Xuất phát từ truyền thống yêu nước, từ đạo lý uống nước nhớ nguồn, từ đời sống tâm linh mang đậm tính chất Phật giáo, người dân Việt Nam bao đời nay luôn tôn thờ những người anh hùng dân tộc với lòng ngưỡng mộ và biết ơn sâu sắc. Các vị ấy đã được huyền thoại hóa và được phụng thờ như những phúc thần, thành hoàng bảo vệ làng. Mạc Cảnh Huống, từ một nhân vật lịch sử với cuộc đời đầy thú vị dưới tác động của quá trình dân gian hóa, ông đã trở thành một nhân vật tín ngưỡng, một nhân vật huyền thoại của xứ Quảng.

Sắc phong thống binh Thái phó Mạc Cảnh Huống (năm Duy Tân thứ nhất -1907)
Sắc phong thống binh Thái phó Mạc Cảnh Huống (năm Duy Tân thứ nhất -1907)

Từ một thái tử…

Thái tử Mạc Cảnh Huống (1542-1677) là con út của Thái tông Mạc Đăng Doanh và thứ phi Đậu Thị Giang, quê ở làng Cổ Trai, huyện Nghi Dương, phủ Kim Môn, trấn Hải Dương, nay thuộc xã Ngũ Đoan, huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng. Từ một thái tử nhà Mạc, ông theo  anh em “cọc chèo” của mình là Nguyễn Hoàng vào vùng Thuận Hóa xây dựng sự nghiệp. Năm 1568, dưới triều vua Mạc Mậu Hợp (1562 – 1592), Mạc Cảnh Huống quyết định đưa gia đình vào Đàng Trong. Lúc đầu định cư ở làng lấy tên là Cổ Trai ở vùng Cửa Tùng, huyện Minh Linh (nay là Quảng Trị).

Khi Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa lần hai vào năm 1600 thì Mạc Cảnh Huống trở thành một trợ thủ đắc lực nhất cùng với Nguyễn Ư Kỷ và Tống Phước Trị. Sự lớn mạnh của quân đội Đàng Trong nói chung và Hội An đầu thế kỷ XVII là nhờ sự đóng góp quan trọng của ông. Mạc Cảnh Huống là chỉ huy tối cao của quân đội Đàng Trong, ông đã viết cuốn “Binh thư trận đồ” có thể sánh với cuốn “Binh thư yếu lược” của Trần Quốc Tuấn nhưng rất tiếc cuốn sách đã không còn từ năm 1978. Ông cũng là người phục vụ lâu dài nhất dưới thời các chúa Nguyễn, kể từ thời chúa Tiên Nguyễn Hoàng qua chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên đến chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan trong suốt 38 năm liên tục từ 1600 đến 1638.

Ở tuổi 96, ông xin về hưu và định cư ở làng Trà Kiệu (Duy Xuyên – Quảng Nam) và trở thành thủy tổ của tộc Mạc ở đây. Mạc Cảnh Huống được chúa Nguyễn ban cho quốc tính là Nguyễn Phước, đến thời kỳ Tây Sơn đổi thành Nguyễn Trường. Khi vua Duy Tân lên ngôi (1907 – 1916) đã đánh giá lại công lao của các huân thần trong buổi sơ khai xây dựng vương triều nhà Nguyễn, ban sắc phong ngày 24 tháng 12 năm Duy Tân thứ nhất (1907) truy tặng Mạc Cảnh Huống (tức Nguyễn Trường Huống) là Khai quốc công thần. Trong sắc phong có ghi: Triều trước thống binh thái phó được truy phong Nguyên huân Nguyễn Trường Huống, chí lớn nuốt trôi sao Đẩu, dũng khí cầm ngang ngọn giáo, coi khinh mưu lược Vệ Khanh, Anh Bố, hoài nhớ tài cao Quản Trọng, Khổng Minh.

…Đến vị Phật sống

Sắc phong thống binh Thái phó Mạc Cảnh Huống (năm Duy Tân thứ nhất -1907) hiện được lưu tại nhà thờ Tiền hiền làng Trà Kiệu
Sắc phong thống binh Thái phó Mạc Cảnh Huống (năm Duy Tân thứ nhất -1907) hiện được lưu tại nhà thờ Tiền hiền làng Trà Kiệu

Trong tâm thức của nhân dân, nhân vật được thờ thường phải thiêng liêng, mang chút huyền bí dựa trên cuộc đời thực của họ và được huyền thoại hóa, lịch sử hóa, địa phương hóa. Mạc Cảnh Huống là người rất sùng đạo Phật nên khi vào Đàng Trong, lúc ở làng Cổ Trai (Quảng Trị) đã xây dựng chùa thờ Phật gọi là Lam Sơn Phật Tự. Đến khi định cư ở làng Trà Kiệu, ông trùng tu ngôi chùa trên đồi Bảo Châu có tên gọi là Bảo Sơn Phúc hay Bảo Châu Sơn Tự và trụ trì với pháp danh Thuyền Cảnh Chân Tu. Cũng như Thái Thượng hoàng Trần Nhân Tông, ông thực hành các phương pháp thiền Phật giáo, tương truyền ông đạt đến trạng thái trở về hoàn toàn bản lai. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Phước Tương cũng như nhân dân trong làng là ông đã sống đến 135 tuổi nhờ thực hiện phương pháp thiền này.

Đó được xem là một huyền thoại về ông, nếu không nói là người sống lâu nhất thế giới. Đồng thời ông được nhân dân trong vùng và dinh Quảng Nam tôn vinh như vị Phật sống. Nhân dân làng Cổ Trai (Quảng Trị), Trà Kiệu (Quảng Nam) trong lời tưởng niệm ông có khấn: Ngài đã trở lại hoàn toàn sự hoàn thiện bản lai như cũ bằng những cố gắng. Ngài đã thực hiện các tuân thủ và nhịn ăn một cách chu đáo, Ngài thực hiện việc tích đức với tất cả sức lực của mình trong một ngôi nhà hưu trí thờ Phật… Ngài đã tự nâng cao sự tinh thông hoàn toàn, sau khi Ngài tịch, người ta đã dâng tặng nhiều phẩm tước cao quý và chúa Nguyễn đã tôn kính Ngài như một vị Phật mà sự xuất hiện trên cõi đời này cũng giống như sự xuất hiện của các Đức Phật khác.

Mạc Cảnh Huống từ một nhân vật anh hùng với những chiến công hiển hách trong thời kỳ đầu chúa Nguyễn đã được địa phương hóa trở thành vị Phật sống, phúc thần, là ân nhân của làng, vị thần bảo hộ cho làng Trà Kiệu (Quảng Nam) cũng như làng Cổ Trai (Quảng Trị) và được nhân dân hai làng trên phụng thờ nơi tôn kính nhất.

VÕ HÀ

(baodanang.vn/11.02.2012)

Đăng tải tại Uncategorized | Bình luận về bài viết này

Họ Mạc ở Việt Nam: Gần 500 năm li tán và nỗi oan khiên

Hoàng Linh

Sau gần 500 năm li tán, lần đầu tiên con cháu, hậu duệ nhà Mạc mới có cuộc gặp mặt quy mô toàn quốc, đó là “Đại hội đại biểu Mạc Tộc Việt Nam lần thứ nhất” diễn ra tại hội trường Bảo tàng Hồ Chí Minh, quận Ba Đình, Hà Nội. Gần 500 năm, một hành trình các chi họ Mạc trải khắp mọi miền đất nước, với sáng kiến có một không hai trong lịch sử, đó là đổi ra nhiều họ khác nhau để bảo tồn tông tộc. Bằng những quy ước bất thành văn, con cháu họ Mạc hôm nay vẫn nhận ra nhau, cùng tụ họp với biết bao tâm tư, mong muốn lịch sử phải nhìn nhận lại cho công bằng những đóng góp của Mạc tộc cho Tổ quốc…

alt

Các đại biểu chụp ảnh lưu niệm

Theo các ghi chép lịch sử, họ Mạc Việt Nam xuất hiện ở xã Lũng Động, huyện Chí Linh, xứ Hải Dương (nay là Long Động, Nam Tân, Nam Sách, Hải Dương). Trong lịch sử, dòng họ Mạc ở Việt Nam được ghi nhận đóng góp nhiều hiền tài cho đất nước, trong đó có “Lưỡng quốc Trạng nguyên” Mạc Đĩnh Chi nổi tiếng thần đồng. Con cháu cụ Mạc Đĩnh Chi người nào cũng có tài, học hành hiển đạt. Đến đời cụ Mạc Đĩnh Quý (còn gọi là Mạc Bình) dời đến Cổ Trai, huyện Nghi Dương (nay là huyện Kiến Thụy, TP Hải Phòng). Cụ Mạc Đĩnh Quý sinh ra cụ Mạc Đĩnh Phú (còn gọi là Mạc Hịch). Cụ Mạc Đĩnh Phú sinh ra cụ Mạc Đăng Dung. (Theo tác giả Hoàng Lê, Viện Nghiên cứu Hán Nôm “Tìm hiểu về họ Mạc ở Việt Nam” – cuốn Cội nguồn tập 4 – NXB Văn Hóa dân tộc năm 2001).

Thưở nhỏ, Mạc Đăng Dung nổi tiếng có sức khỏe, lớn lên đỗ lực sĩ, được sung vào quân túc vệ, đời Lê Uy Mục. Năm Đoan Khánh thứ 4 (1508), ông được vua Lê Uy Mục giao cho làm Thiên vũ vệ đô chỉ huy sứ, Ty đô chỉ huy sứ. Năm Hồng Thuận thứ 3 (1511) vua Lê Tương Dực thăng cho ông chức Đô chỉ huy sứ, tước Vũ xuyên bá. Từ đời Lê Uy Mục, triều Lê suy yếu, các tướng chia bè phái đánh lẫn nhau; nhiều lực lượng nông dân nổi dậy khởi nghĩa chống lại triều đình. Bằng tài năng, Mạc Đăng Dung đã giúp triều đình dẹp được nhiều cuộc nổi loạn. Năm 1518, vua Lê Chiêu Tông nghe lời dèm pha, sai người giết Trần Chân. Thủ hạ của Trần Chân là Nguyễn Kính nổi loạn. Vua bèn cho triệu Mạc Đăng Dung đang trấn thủ ở Hải Dương, cùng Nguyễn Hoằng Dụ về cứu giá. Nguyễn Hoằng Dụ đánh bị thua chạy về Thanh Hóa rồi chết. Mạc Đăng Dung một mình cầm quân dẹp loạn. Năm 1521, Mạc Đăng Dung chiêu hàng được Nguyễn Kính, dẹp được Trần Cung (con của Trần Cảo), quyền thế lẫy lừng. Vua Chiêu Tông cả sợ, chạy ra ngoài nương tựa quân Cần Vương. Mạc Đăng Dung lập em vua Chiêu Tông tên là Xuân lên ngôi, lấy vương hiệu là Lê Cung Hoàng.

Năm 1523, Mạc Đăng Dung điều quân dẹp loạn ở Thanh Hóa. Năm 1524 dẹp được quân của Trịnh Tuy, vua Lê Cung Hoàng phong ông làm Bình chương quân quốc trọng sự thái phó, Nhân quốc công. Năm 1527, ông được phong làm An hưng vương. Cùng năm đó, vua Lê Cung Hoàng ban chiếu nhường ngôi cho Mạc Đăng Dung, có đoạn: “… Ta (Cung đế) bạc đức nối ngôi không thể gánh nổi, mệnh trời và lòng người hướng về người có đức. Vậy nay Thái sư An hưng vương Mạc Đăng Dung là người trí đức, tư chất thông minh, đủ tài văn võ, bên ngoài đánh dẹp, bốn phương đều phục, bên trong trị nước thiên hạ yên vui, công đức rất lớn lao, trời người đều quy phục, nay theo lẽ phải nhường ngôi cho…”. Ngày 15 tháng 6 (âm lịch) năm 1527, Mạc Đăng Dung lên ngôi, lấy niên hiệu là Minh Đức, chính thức lập nên triều đại nhà Mạc. Đến hết năm 1529, Thái tổ Mạc Đăng Dung nhường ngôi cho con trai cả là Mạc Đăng Doanh, lui về làm Thái thượng hoàng. Mạc Đăng Doanh lên ngôi, lấy vương hiệu là Mạc Thái Tông, tại ngôi đến năm 1540 thì băng hà. Thái thượng hoàng Mạc Đăng Dung lập cháu nội là Mạc Phúc Hải lên ngôi, lấy vương hiệu là Mạc Hiến Tông. Năm 1541, Thái tổ Mạc Đăng Dung băng hà. Trước khi mất, Ngài để lại di chúc, khuyên Mạc Hiến Tông phải nhanh chóng về kinh sư để trấn an nhân tâm và lấy xã tắc làm trọng.

alt

Hàng trăm đại biểu các chi họ Mạc cùng về dự Đại hội

Như vậy, việc Mạc Đăng Dung lên ngôi là tất yếu của lịch sử và được nhường ngôi, chứ không phải là thoán nghịch đối với triều Lê như nhiều tư tưởng hủ nho bịa đặt ra. Lịch sử dù có bị chép sai lệch, thì cũng không thể phủ nhận việc Mạc Đăng Dung từng ra sức dẹp loạn, bảo vệ nhà Lê, mong dựng lại triều chính nhưng không được. Từ Lê Uy Mục trở đi, triều đình khủng hoảng trầm trọng. Các vua nhà Lê sống xa hoa, trụy lạc, không để tâm đến việc nước. Chỉ trong thời gian ngắn, mà 4 vua nhà Lê: Uy Mục, Tương Dực, Quang Trị, Chiêu Tông bị giết; hai lần thế lực chống đối lập ra vua mới. Trong tình hình đó, gánh nặng lịch sử đặt lên vai Mạc Đăng Dung, bởi nếu không phải ông thì cũng là người khác. Việc này chẳng khác gì nhà Tiền Lê thay nhà Đinh, nhà Lý thay nhà Tiền Lê, nhà Trần thay nhà Lý… Vậy thì không thể coi đó là có tội được, điều đáng bàn là triều đại nhà Mạc có cống hiến gì cho đất nước mà thôi.

Trên thực tế, nhà Mạc định đô ở Thăng Long 65 năm (từ 1527 – 1592) với 4 đời vua: Mạc Thái Tổ, Mạc Thái Tông, Mạc Hiến Tông, Mạc Tuyên Tông, Mạc Mục Tông. Theo nhiều nhà nghiên cứu lịch sử, trong 65 năm đó, nhà Mạc có những cống hiến không nhỏ cho đất nước. Nhiều chính sách tiến bộ, cởi mở được áp dụng, làm cho đời sống của nhân dân được cải thiện. Thời gian này, công nghiệp và thương nghiệp phát triển rực rỡ; giáo dục, kinh tế, an ninh, xã hội, nghệ thuật, kiến trúc đều để lại những dấu ấn đậm nét. Ngay cả các sử gia đời Lê – Trịnh, có những thành kiến nặng nề với nhà Mạc cũng không thể phủ nhận hết. Khi soạn cuốn Đại Việt sử kí toàn thư, họ vẫn phải ghi nhận: “Đêm ngủ không phải đóng cửa, ra đường không ai nhặt của rơi”. Nhà Mạc vẫn giữ tư tưởng “trọng nông”, nhưng không “ức thương”. Nhiều chợ, trung tâm thương mại được mở mang, tạo điều kiện giao thương hàng hóa, người dân được thỏa sức đem những sản vật mình làm ra bán lấy tiền, đổi lấy hàng hóa. Không chỉ phát triển thương nghiệp trong nước, hàng hóa thủ công nghiệp còn theo các thuyền buôn nước ngoài ra 28 nước trên thế giới. Cũng trong thời kì này, đánh dấu sự hình thành và phát triển rực rỡ của gốm Chu Đậu (Hải Dương), nổi tiếng trong và ngoài nước. Chế độ khoa cử không những không bị sao nhãng, mà còn phát triển mạnh mẽ, với việc mở 22 khoa thi, lấy đỗ 485 Tiến sĩ và 13 Trạng nguyên. Văn học, nghệ thuật, tôn giáo, tín ngưỡng cũng được khôi phục và phát triển…

Tuy nhiên, do xã hội bấy giờ nặng nề tư tưởng Nho giáo, với thái độ ngu trung của Tống Nho, nên tạo điều kiện cho phong trào “phù Lê, diệt Mạc” phát triển. Mặt khác, nhà Lê vì quyền lợi ích kỉ của vương triều, ra sức van nài nhà Minh bên Trung Quốc ra tay tiêu diệt nhà Mạc. Lịch sử vẫn ghi nhận, nhiều lần phái đoàn vua Lê, hoặc bề tôi của nhà Lê sang Bắc Quốc để tố cáo nhà Mạc đoạt ngôi, phát động chiến tranh, tạo điều kiện thuận lợi để nhà Minh kéo quân sang xâm lược nước ta. Từ tháng 11 năm 1536 đến tháng 10 năm 1540, có 10 lần quân Minh kéo sang “chinh phạt An Nam”. Trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, bên trong phải đối phó với các thế lực mưu đồ khôi phục nhà Lê đã mục ruỗng, bên ngoài 22 vạn quân Minh do Mao Bá Ôn chỉ huy ngấp nghé bờ cõi, Thái tổ Mạc Đăng Dung đã có chiến lược tránh cho đất nước khỏi họa binh đao. Một mặt ông cho chuẩn bị kĩ lưỡng về quân sự, mặt khác khôn khéo dâng khống đất cho nhà Minh để cầu hòa. Thực chất của việc này là Thái tổ Mạc Đăng Dung dâng cho nhà Minh 4 động biên giới: Tư Lẫm, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát đã bị nhà Minh lấy từ trước khi Mạc Đăng Dung lên ngôi, chứ không hề mắc tội phản quốc, dâng đất như các sử gia thời Lê trung hưng xuyên tạc. Do hành động rất khôn khéo này, không những nhà Mạc tránh được chiến tranh, mà còn tái lập quan hệ bang giao với nhà Minh.

Năm 1592 nhà Mạc thất thủ ở Thăng Long, phải rút lên Cao Bằng, đặt vương phủ ở Cao Bình – Nà Lữ và tiếp tục thực hiện nhiều chính sách phát triển kinh tế – xã hội. Tại đây, vương triều Mạc tồn tại thêm 85 năm, với các đời vua: Vũ An Hoàng đế Mạc Toàn, Đường An vương Mạc Kính Chỉ, Đôn Hậu vương Mạc Kính Cung, Khánh vương Mạc Kính Khoan, Thuận Đức vương Mạc Kính Vũ, Mạc Nguyên Thanh, Mạc Kính Quang. Trong 85 năm đó, nhà Mạc tổ chức nhiều khoa thi, tuyển chọn được nhiều nhân tài, trong đó có Tiến sĩ Nguyễn Thị Duệ, nữ Tiến sĩ đầu tiên của nước ta.

Sau khi thất thủ ở Cao Bằng, nhà Mạc phải di tản đi nhiều nơi, thay tên đổi họ, mai danh ẩn tích thậm chí gia phả phải ghi chép mập mờ… để tránh những cuộc truy sát kéo dài hàng trăm năm, bảo toàn tông tộc. Để con cháu sau này dễ nhận ra nhau, các vị tiên hiền nhà Mạc đặt ra những quy ước, mật hiệu bất thành văn: Khi đổi sang họ khác thì phải giữ bộ thảo đầu (trong chữ Mạc có bộ thảo) như các họ Hoàng, Phạm, Lều, Tô, Phan, Thái, Bùi… Đệm thì lấy chữ Đăng (theo đệm của Thái tổ Mặc Đăng Dung), ngoài đệm Đăng cũng có thể lấy các đệm khác như Đình, Mậu, Phúc… Nhờ đó, con cháu hậu duệ nhà Mạc tiếp tục tồn tại và phát triển. Nhiều người nổi danh, đóng góp cho đất nước, cho dân tộc như Thủ lĩnh Hoàng Công Chất, Tổng đốc Hoàng Diệu, Mạc Đăng Tiết, Phạm Hồng Thái, Lê Hồng Sơn, nhà cách mạng Phan Đăng Lưu…

Sự ra đời của Hội đồng Mạc tộc Việt Nam đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong lịch sử, tạo điều kiện cho các chi họ Mạc và gốc Mạc trong cả nước tìm đến với nhau. Nhưng, nỗi oan trong lịch sử chưa được gột rửa hết, tới đây đòi hỏi phải có những cuộc khảo cứu sâu hơn nữa, để trả lại công bằng cho các cống hiến của nhà Mạc đối với đất nước.

Đăng tải tại Uncategorized | Bình luận về bài viết này

THƯ CHÚC TẾT NHÂM THÌN – 2012

THƯ CHÚC TẾT NHÂM THÌN – 2012

Đăng tải tại Uncategorized | Bình luận về bài viết này

HOÀNG HẬU MẠC THỊ GIAI

HOÀNG HẬU MẠC THỊ GIAI

Nguyễn Phước Tương

 Cuộc đời của Quận chúa Mạc Thị Giai ẩn cư ở chùa Phật Lam Sơn gắn liền với ba nhân vật lịch sử nổi tiếng của thời Nam- Bắc triều và Trịnh –Nguyễn phân tranh: Mạc Kính Điển (?- 1580), Mạc Cảnh Huống (1542-1677) và Nguyễn Phúc Nguyên (1563-1635).

Mạc Kính Điển là con thứ hai của vua Đại Chính Mạc Đăng Doanh (1530-1540) và em ruột của vua Quảng Hòa Mạc Phúc Hải (1541-1546) và là anh ruột của Thống Binh Thái Phó Mạc Cảnh Huống, đồng thời là thân phụ của Quận Chúa Mạc Thị giai (1578-1630). Ông mất trong khi lãnh đạo quân nhà Mạc chống lại quân Trịnh vào tháng 10 Quang Hưng thứ 3 (1580) (1,2) chứ không phải bị quân Trịnh giết.

Mạc Kính Điển “Tính nhân hậu, minh mẫn, dũng cảm có thừa”. Ông là chú của Mạc Mậu Hợp, giữ chức vị gồm cả tướng văn và tướng võ, giữ binh quyền trong hơn 20 năm…, giữ chức Tổng Soái Trung Doanh, cầm quyền chính trị trong triều ngoài quận, Mậu Hợp tấn phong chức Khiêm Đại Vương. Ông tiếp đãi quan liêu có lễ độ, đối với quân sĩ có ân nghĩa, từng trải biết bao gian hiểm mà vẫn cần lao trung thành, thời bấy giờ tựa vào ông làm trọng. Khiêm chết lòng người trong nước đều giao động. Sau khi ông qua đời có chín con trai, chín con gái”(2).

Vào thời kỳ đó, họ Mạc quê ở làng Cổ Trai, huyện Nghi Dương, phủ Kinh Môn, thuộc trấn Hải Dương (3) (nay thuộc xã Ngũ Đoan, huyện Kiến Thụy, Tp Hải Phòng) khi thân phụ Mạc Kính Điển mất Quận chúa mới 2 tuổi vì vậy không thể là con gái đầu của Khiêm Đại Vương như trong Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên và Nguyễn Phước tộc thế phả đã nêu lên(5).

Sau khi Khiêm Đại Vương Mạc Kính Điển qua đời, quân Trịnh trở nên thắng thế, chúa Trịnh Tùng đã hạ lệnh cho các tướng thuộc hạ truy lùng khắp nơi để tiễu trừ “dư đảng ngụy Mạc”. Trước cảnh thảm sát trả thù của vua Lê, chúa Trịnh, cộng đồng họ Mạc có một bộ phận lớn phải rời bỏ làng quê di tản đến nơi khác để trốn tránh và sinh sống đồng thời đổi họ Mạc thành họ Ngô; một chi phái họ Mạc ở Hà Tĩnh đã đổi thành họ Hoàng bởi lẽ các chữ đó theo Hán tự viết gần giống với chữ Mạc.

 

 

Khu Lăng mộ Mạc Thi Giai

Theo gia phả còn lưu lại của họ Ngô (tức họ Mạc) ở làng Cổ Trai, Hải Dương còn cho biết có một bộ phận họ Mạc đã di tản đến sống và lập làng ở vùng Cửa Tùng, thuộc tổng Minh lương, huyện Minh linh (3) (nay thuộc huyện Hiền Lương, tỉnh Quảng Trị). Để tưởng nhớ làng quê ở Hải Dương, dân làng vẫn lấy tên làng cũ Cổ Trai để đặt cho làng mới ở Minh Lương và gọi làng cũ ở Nghi Dương là làng Cổ Trai Mẹ, làng Cổ Trai lớn hay Cổ Trai Đại Hương hoặc Cổ Trai Đại Hương xã (3)

Từ 1553 dưới thời Mạc Phúc Nguyên (1546-1564), Dương Văn An đã viết “Làng Cổ Trai có lợi hải đồ”, ý muốn nói dân làng Cổ Trai chuyên sống bằng nghề chài lưới đánh bắt hải sản (6) (điều này cho thấy rằng làng Cổ Trai có mặt từ lâu vào thế kỷ 16 tại tổng Minh Lương, huyện Minh Linh thuộc phủ Triệu Phong thời bấy giờ sau khi hai Châu Ô và Châu Lý của Chăm Pa trở thành lãnh thổ của ĐạiViệt từ dưới thời nhà Trần vào năm 1307).

Mạc Cảnh Huống là chú ruột của Quận chúa Mạc Thị Giai, là người cộng sự đắc lực và trung thành của Đoan Quận công Nguyễn Hoàng. Vào năm 1558, khi Nguyễn Hoàng được vua Lê cử vào Nam lần đầu tiên để làm quan trấn thủ Thuận Hóa thì Mạc Cảnh Huống mới có 16 tuổi và chưa lập gia đình, bởi vậy ông chưa thể đi theo Đoan Quận công Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa như một số tài liệu và tác giả nêu (7, 4, 3) cũng không phải là vào khi Nguyễn Hoàng lập kế đem quân đi dẹp Phan Ngạn và Bùi Văn Khuê nổi loạn ở cửa Đại An, Nam Định để trở về Thuận Hóa lần thứ hai vào năm 1600.

Theo gia phả của chi phái họ Mạc (đã đổi thành họ Nguyễn Trường dưới thời Tây Sơn) ở làng Trà Kiệu, xã Duy Sơn, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng thì Mạc Cảnh Huống đã đưa gia quyến vào Thuận Hóa năm 1568 (11) để theo nhà Nguyễn chống lại chúa Trịnh.

Mạc Cảnh Huống là anh em đồng hao với Nguyễn Hoàng, vợ ông là Nguyễn Thị Ngọc Dương, em gái của phu nhân Đoan Quận Công. Bà vừa là thím ruột của Quận chúa Mạc Thị Giai vừa là dì ruột của Thế Tử Nguyễn Phúc Nguyên đồng thời là mẹ nuôi của Thế Tử, nên quan hệ giữa họ Mạc với họ Nguyễn rất gắn bó. Bởi vậy mà sau khi Nguyễn Hoàng trở về Thuận Hóa năm 1600, Mạc Cảnh Huống đã trở thành người phụ tá hết lòng và tin cẩn của Đoan Quận Công, góp phần xây dựng cơ đồ Chúa Nguyễn ở Đàng Trong và trở thành một trong ba Khai Quốc Công Thần của triều Nguyễn.

Về Quận chúa Mạc Thị Giai, sau khi thân phụ Mạc Kính Điển qua đời và thời kỳ suy vong của nhà Mạc vào năm 1592, đã quyết định đi vào Thuận Hóa để nương tựa vào người chú ruột là Mạc Cảnh Huống, vào năm 1593, lúc Quận Chúa ở tuổi 15. Khi rời bỏ quê hương phía bắc, Quận Chúa đã “nhìn về phương nam với sự quyến luyến và nỗi buồn”(3).

Bà Nguyễn Thị Ngọc Dương hết lòng thương yêu người cháu gái bởi lẽ Quận Chúa là người thiếu nữ hiền thục với cử chỉ đoan trang, nếp sống thanh nhã theo đúng khuôn phép của Hoàng tộc. Ban đầu, bà đưa người cháu về sống ở làng Cổ Trai gần Cửa Tùng.

Tại làng cổ Trai, còn gọi là Kinh Dương, cộng đồng họ Mạc đã dựng một ngôi nhà thờ tộc gọi là Tôn Miếu mà ở gian Tôn Diêu, người ta thờ bài vị của các tiên hiền của dòng họ. Tại đây, sau khi Mạc Cảnh Huống làm quan cho Chúa Nguyễn Hoàng và vốn là người sùng đạo Phật, đã giúp cho làng xây dựng một ngôi chùa thờ Phật gọi là Lam Sơn Phật Tự.

Quận Chúa Mạc Thị Giai đã sống ẩn mình ở chùa Phật Lam Sơn này trong một thời gian gần hai năm, hàng ngày tụng kinh niệm phật. Ở đây Quận Chúa đã gặp Ông Kiều và Bà Kiều mà cộng đồng họ Mạc ở Cổ Trai xem Ông Kiều như một vị tiên hiền của làng. Trong gia phả họ Ngô (tức họ Mạc) đã nói đến “vị tiên hiền đầu tiên Ngô Đại Lang, thường được gọi là Ông Kiều và phu nhân, Bà Kiều…một bà mẹ không thể chê trách”(3).

Bà Nguyễn Ngọc Dương có vai trò hết sức quan trọng trong việc Quận chúa Mạc Thị Giai trở thành Hoàng Hậu nhà Nguyễn. Như trên đã nói, quan hệ giữa họ Nguyễn và họ Mạc chặt chẽ về nhiều mặt, bản thân bà Nguyễn Ngọc Dương vừa là thím ruột của Quận chúa Mạc Thị Giai vừa là dì ruột và mẹ nuôi của Thế Tử Nguyễn Phúc Nguyên, chính bà đã tiến Quận Chúa vào hầu nơi tiềm để của Thế Tử Nguyễn Phúc Nguyên, dẫn tới hôn nhân giữa hai người cháu nội và cháu ngoại của bà.

Chúng ta khó xác định được niên đại Quận Chúa Mạc Thị Giai trở thành phu nhân của Thế tử Nguyễn Phúc Nguyên, do năm sinh của Nguyễn Phúc Kỳ, con trai trưởng không được nêu rõ trong phả tộc Nguyễn. Căn cứ vào năm sinh của người con trai thứ hai Nguyễn Phúc Lan, là năm 1601, chúng ta giả định rằng cuộc hôn nhân đó đã tiến hành vào khoảng từ năm 1595 đến 1596 tức là lúc Quận Chúa ở tuổi 17-18 và lúc đó Nguyễn Phúc Nguyên đã ở tuổi 32-33.

Thông thường các Thế Tử nhà Nguyễn lập gia thật sớm, bởi vậy nhà Huế học Léopold Cadière đã nêu ý kiến rằng liệu Quận Chúa Mạc Thị Giai có phải là người vợ đầu tiên của Nguyễn Phúc Nguyên hay không, mặc dù theo gia phả chính thống của họ Nguyễn, bà là chính thất của Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên và về sau được tấn phong Hoàng Hậu.

Theo Nguyễn Phước Tộc Thế Phả (1995), Chúa Sãi có cả thảy 11 hoàng nam và 4 hoàng nữ, trong khi đó Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên và Gia phả của Quận Chúa Mạc Thị Giai của làng Cổ Trai, thì bà sinh hạ được 5 hoàng nam và 3 hoàng nữ (8). Như vậy, những hoàng nam và hoàng nữ khác đã được sinh ra ít nhất từ một phu nhân khác mà trong các gia phả của Nguyễn Phước tộc viết vào nhiều thời kỳ đã không nêu rõ tên.

Tôn Thất Hân trong “Gia phả họ Nguyễn” viết năm 1920 (9) đã cho biết những hoàng nam và hoàng nữ đó “được sinh ra từ mẹ không rõ” hoặc không nêu tên người mẹ đã sinh ra họ. Những tư liệu đó cho phép khẳng định rằng Hoàng Hậu Mạc Thị Giai không phải là người vợ duy nhất của Chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên và có thể không phải là người vợ đầu tiên, bởi vì Chúa Sãi có 15 con trai và con gái, trong khi bà chỉ sinh 8 con trai và con gái (Nguyễn Phúc Kỳ, quan trấn thủ Quảng Nam; Chúa Thượng; Nguyễn Phúc Anh, quan trấn thủ Quảng Nam; Nguyễn Phúc trung, Chưởng dinh; Nguyễn Phúc Anh Phó tướng, quan trấn thủ Trấn Biên; Nguyễn Phúc Ngọc Liên gả cho Phó tướng Nguyễn Hữu Lập, quan trấn thủ Trấn Biên; Nguyễn Phước Ngọc Vạn gả cho vua Chân Lạp Chey Chetta II và Nguyễn Phước Ngọc Khoa gả cho vua Chiêm Thành Pôrômê).

Cần nhấn mạnh rằng: “Hậu tính thông mẫn dịu dàng, lời nói cử chỉ đều có khuôn phép, Chúa rất yêu thương”(4); “nhờ phẩm hạnh và cách ứng xử đáng được ca ngợi”(3) mà về sau bà được phép mang họ của nhà Chúa: Nguyễn Thị Giai hay Nguyễn Thị Ngọc Giai.

Cũng nhờ ân huệ đó mà em gái bà là Mạc Thị Lâu và em họ bà là Mạc Cảnh Vinh, con trai trưởng của Mạc Cảnh Huống, cũng được mang họ nhà Chúa và trở thành Nguyễn Thị Ngọc Lâu và Nguyễn Phúc Vinh. Em gái của bà đã tu hành và thường được gọi Vãi Đô, về sau lập gia thất với Quốc sư Võ Qưới Công. Mộ hai ông bà hiện nay còn ở xã Duy Sơn, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.

Sau khi trở thành phu nhân của Thế Tử, bà Mạc Thị Giai sống năm 1595 ở Dinh chúa tại Trà Bát, huyện Vũ Xương, tỉnh Quảng Trị. Đến năm Nhâm Dần 1602, Thế Tử Nguyễn Phước Nguyên được Chúa Tiên Nguyễn Hoàng cử làm quan trấn thủ dinh Quảng Nam và bà theo chồng đến sống ở Dinh trấn Chiêm Thành, phủ Điện Bàn. Nhân dân Quảng Nam thường gọi là bà với cái tên tôn kính là Đức Bà Bá Giai.

Tháng 6 năm Quý Sửu 1613, Chúa Tiên Nguyễn Hoàng băng hà, Thế Tử Nguyễn Phúc Nguyên lên ngôi Chúa vào tuổi 51, được vua Lê phong tước Quận Công Hàm Thái Bảo và giao cho việc trấn thủ Thuận Quảng. Chúa Nguyễn Phúc Nguyên được thần dân tín phục, vốn rất sùng đạo Phật, nên được nhân dân Đàng Trong gọi là Chúa Sãi.

Theo truyền khẩu của nhân dân làng Cổ Trai ở Quảng Trị, ông Mạc Cảnh Huống, bà Mạc Thị Giai và một người con gái của bà (chắc chắn là công chúa Nguyễn Phúc Ngọc Liên là con dâu họ Mạc) đã giữ một vị trí quan trọng trong đời sống, tổ chức nội bộ làng Cổ Trai vào thời kỳ đó (3).

Các tư liệu lưu trữ ở làng Cổ Trai đã cho thấy bà có mối quan hệ gắn bó với làng, với ngôi chùa Phật Lam Sơn của làng, với nhà thờ tộc của làng. Đã có lần bà cúng cho làng 100 lạng vàng, đó là một số tiền khá lớn vào thời đó. Dân làng Cổ Trai trước hết đã tự hòa về bà là “người con gái của làng, niềm vinh quang của làng, vị ân nhân của làng và là một trong ba vị thần bảo vệ dòng họ” (3).

Bà qua đời vào ngày mồng 9 tháng 11 năm Mậu Ngọ tức ngày 12-12-1630, hưởng thọ 52 tuổi. Dân làng Cổ Trai đã “cải tự vi từ”, biến chùa Phật Lam Sơn thành từ đường thờ bà và những vị đại nhân của làng để tưởng nhớ đến vong linh của bà và các tiền bối họ Mạc. Trong lời tưởng niệm, vị tộc trưởng làng Cổ Trai, Quảng Trị đã khấn: “Từ bốn trăm năm nay làng này vẫn tồn tại và nếu làng được mở mang thêm thì không có gì trái ngược với sự nghiệp của Hoàng hậu”(3). Về sau, tộc mạc ở làng Cổ Trai ở Cửa Tùng, Quảng Trị đã không đủ sức duy trì nhà thờ Hoàng hậu đúng theo nghi lễ tôn nghiêm như trước được nữa, nên năm Giáp Thân, Minh Mạng thứ năm (1824) đã tâu lên vua xin chuyển nhà thờ bà thành chùa Phật như trước và đã được nhà vua chuẩn y. Về vấn đề này, “Đại Nam Thực Lục Chính Biên” đã ghi lại như sau: “Cho xã Cổ Trai (huyện Minh linh, Quảng Trị) 300 quan tiền. Cổ Trai là làng thích lý của Hiếu Văn Hoàng Hậu, trước dân làng cảm ân đức hoàng hậu, lập đền thờ, nay tự nghĩ không dám thở nhảm, tâu xin đổi làm Chùa Phật. Vua theo xin và cho tiền”(12). Qua thời gian, chùa Phật này đã bị hư hại, chỉ còn lại nền móng cũ ở làng Cổ Trai(3).

Theo tài liệu lưu trữ của họ Ngô (tức họ Mạc) ở làng Cổ Trai mẹ ở Kiến Thụy, hàng năm bà con trong họ đã tổ chức hiệp kỵ một cách trọng thể ba vị thần bảo vệ dòng họ là Mạc Cảnh Huống, Mạc Thị Giai và Nguyễn Phúc Ngọc Liên và các đại nhân họ Mạc vào ngày rằm tháng 5 âm lịch hàng năm.

Sau khi bà mất, Chúa sãi Nguyễn Phước Nguyên vô cùng thương tiếc, truy tặng là Doanh Cơ, thụy là “Huy cung Từ Thận Ôn Thục Thuận Trang hiếu Văn Hoàng Hậu”(4,5).

Hiếu Văn Hoàng Hậu được phối thờ với Huy Tông Hiếu Văn Hoàng Đế (tức Chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên) tại Thái Miếu ở gian thứ nhất bên trái trong hoàng cung Huế.

Hoàng Hậu họ Mạc qua đời tại dinh trấn Thanh Chiêm, Quảng nam khi sống cùng con trai trưởng Nguyễn Phúc Kỳ lúc đó là quan trấn thủ dinh Quảng Nam. Lăng mộ của Hoàng hậu tọa lạc trên một khu đất của Gò Hàm Rồng thuộc làng Chiêm sơn, xã Duy trinh, huyện Duy Xuyên hiện nay mà nhân dân đại phương gọi là Lăng Dưới. Chắc chắn lăng được xây dựng vào cuối năm 1630 trên một diện tích rộng 8 mẫu, 4 sào, 5 tấc, ứng với lô đất số hiệu 1220 theo địa bộ xã Duy Trinh.

Chúa Nguyễn Phước Nguyên đã cấp cho Hoàng hậu Nguyễn Thị Giai sau khi qua đời 4 mẫu, 8 sào, 12 thước đất tư điền thuộc hai làng Trà Kiệu Đông và Trà Kiệu Tây trên đất huyện Duy Xuyên và 2 mẫu thuộc làng Hương Quế trên đất huyện Quế Sơn để con cháu thu hoa lợi hương khói cho bà hằng năm.

Hoàng hậu được thờ ở Chùa Vĩnh An tức Chùa Vua, được xây dựng dưới triều Nguyễn, cùng với Hoàng Hậu Đoàn Thị ngọc trong Vườn Chùa trên đất làng Chiêm Sơn, xã duy Trinh, huyện Duy Xuyên.

Đến năm gia long thứ 5, 1806 Lăng của Hoàng hậu Nguyễn Thị Giai được đặt tên là Lăng Vĩnh Diễn và được tu sửa vào năm 1814 dưới thời vua Gia Long (10).

Chùa Vĩnh An và Vườn chùa còn tồn tại đến sau Cách mạng tháng 8-1945 và bị hư hỏng trong kháng chiến chống Pháp do không có người quản lý chăm sóc.

Đến nay, Lăng Vĩnh Diễn vẫn còn tồn tại ở làng Chiêm Sơn, xã Duy Trinh, huyện Duy Xuyên.  Qua một thời gian dài không được bảo tồn và bị nhân dân địa phương xâm phạm, nên thành bảo vệ bị xói lở, mái ngôi mộ bị sạt lở, đất trong phạm vi bên trong lăng bị đào xới để tìm vàng nham nhở, trồng cây lấy củi, ăn quả…cho đến năm 1998 chính quyền Quảng Nam mới đưa lăng vào diện tích lịch sử- văn hóa địa phương cần được bảo vệ và trùng tu.

Lăng Vĩnh Diên là một di tích cổ xưa nhất của thời Nguyễn còn lại trên đất Quảng Nam, đến nay gần 400 năm và có thể trở thành một địa điểm du lịch có giá trị ở địa phương, đã được Ủy ban Nhân dân Tỉnh Quảng Nam ra Quyết định số 436-QĐ-UB ngày 15 tháng 2 năm 2005 xếp hạng là Di tích lịch sử của địa phương./.

Tài liệu dẫn:

1.     Trần Trọng Kim:Việt nam Sử lược. Quyển II.1971.

2.     Lê Quý Đôn: Đại Việt Thông sử.

3.     L.Cadière: As sujet de l’épouse de Sãi Vương BAVH, 1922.N03.

4.     Quốc Sử quán triều Nguyễn: Đại Nam Liệt Truyệt Tiền Biên.

5.     Hội Đồng Trị Sự Nguyễn Phước Tộc. Nguyễn Phước Tộc Thế phả 1995

6.     Dương Văn An (Nhuận Sắc): Ô Châu Cận Lục. 1553

7.     Nguyễn Đắc Xuân: Chín đời chúa, Mười ba đời vua, 1996.

8.     L.Cadière: Généalogie de la Princesse Giai, épouse de Sãi Vương. BAVH 1943, N04.

9.     Tôn Thất Hân Généalogie des Nguyễn avant Gia Long BHA.1943, N04

10.             Quốc Sử quán triều Nguyễn: Đại Nam Nhất Thống Chí. Quyển V.

11.            Nguyễn Trường Mười: Gia phả tộc Mạc- Nguyễn Trường, xã Duy Sơn, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.

12.            Quốc Sử quán triều Nguyễn: Đại Nam Thực Lục Chính Biên. Tập III; tr 69.

13.            Quyết định của Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng nam số 436-QĐUB ngày 15-2-2006 về việc xếp hạng di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật tỉnh Quảng Nam.


Đăng tải tại Uncategorized | Bình luận về bài viết này

Cổ Trai Đế V­ương -Trà Phương công chúa

Cổ Trai Đế V­ương -Trà Phương công chúa

Tháng Chín 29, 2009 bởi nuitraphuong


Đất nhà Mạc

Đứng trên núi Trà Phương nhìn về Phương Nam thấy biển, núi, sông, đồng ruộng và những khu dân c­ư trù phú thật tuyệt vời, xa xanh là daỹ núi đảo Cát Bà và biển Đông dạt dào sóng vỗ, gần là dãy núi Đồ Sơn. Ta có thể tự đo tầm mắt thấy giữa núi Trà Phương và dãy núi Đồ Sơn là Tổng Cổ Trai nơi sinh ra Hoàng Đế Mạc Đăng Dung đã xây dựng nên một triều đại đầy tranh cãi của lịch sử , nh­ưng những vật thể và phi vật thể cho ta cũng thấy tầm vóc huy hoàng của triều đại này. Đặc biệt ngày giỗ 468 năm ngày kỵ của Mạc Thái Tổ ta lại thấy hiển hiện sự hùng mạnh của hậu duệ Hoàng Đế Mạc Đăng Dung.

Trà Phương công chúa

Giờ thìn ngày 5 Tết năm B. Tuất tôi và con trai Nguyễn Công Khanh lên núi Trà Phương cổ gọi núi Chè. Thực đây là ngọn đồi, cùng với đồi Đối cách đó khoảng 1 km đ­ường chim bay về phía Đông Bắc là vệt kéo dài của rặng đồi núi Phù Liễn xuống quần đảo Đồ Sơn. Trên cao nắng, gió mùa Xuân nhìn đất nư­ớc đâu đâu cũng tuyệt đẹp, hình nh­ư nhìn quê mình có cảm xúc riêng nên càng thấy cảnh quê tôi đẹp và nên thơ vô cùng. Khi đứng giữa ngọn đồi thân yêu, tôi nói với con: Tạo hoá thật tuyệt, ngay ngọn đồi này cũng thể hiện đầy đủ tính Âm D­ương, Ngũ hành, phía Tây thuộc Kim là làng Trà Phương ngay chân đồi bị ng­ười tàn phá nên dốc đứng, cây mọc yếu, phía Đông thuộc Mộc, phía Bắc thuộc Thuỷ nên cây xanh tốt, phía Nam thuộc Hoả nên trơ cằn sỏi đá.

Lên cao ta mới nhìn thấy sự tuyệt vời phong cảnh của từng vùng đất, d­ưới các học thuyết về phong thuỷ, ta sẽ thấy ngày x­a làng Trà Phương phía Đông dựa vào núi Trà. Phía Tây nhìn ra dòng sông từ làng Hoà Liễu chảy xuống Cổ Trai đổ ra Đồ Sơn. Phía Bắc là sông nhỏ chảy sát núi Trà đổ về Cổ Trai. Phía Đông nối với làng Quế có thể liền với làng Cổ. Nếu lấy núi Trà làm trung tâm thì phía Đông là núi Đối và sông Đa Độ, phía Tây là vết tích của nhánh sông Văn úc, phía Nam là làng Cổ Trai, núi Đồ sơn và biển, phía Bắc là dãy núi Phù Liễn nh­ư đàn ngựa đang mải miết fi về f­ương Nam.

Như­ vậy: phong thuỷ ngoại làng Trà nếu lấy trục Đông Tây mà xem thì: hậu là núi Trà là núi Đối, tiền là sông Văn úc, tả Thanh long là dãy núi Đồ Sơn dài nh­ư rồng bay ra biển cả, hữu là dãy núi Kiến An như­ Bạch hổ vậy. Phong thuỷ nội lấy đâu làm trung tâm ? Chuyện về nhà Lê- Trịnh đã triêt mạch làng Trà Phương bằng đào các con kênh, các ao ngang dọc, đập nát các đền đài, để phá huỷ toàn bộ sự tốt đẹp của phong thuỷ mà Trời Đất đã ban cho làng ta rồi? Nh­ư vậy: Tất cả các công trình lớn là Đình con Dơi, chùa Thiên Phúc và Phủ Kiến Thuỵ đều nằm ven bờ sông phía Tây cả. Ôi dòng sông thân yêu và các công trình do cổ nhân xây dựng đã bị thời gian, ng­ười dịch chuyển và phá huỷ thành diện mạo đáng buồn nh­ư nay ta thấy!

Phía Đông là núi Trà Ph­ương nay có nhiều di tích tâm linh đã đ­ược dựng lại như: chùa làng Cẩm Hoàn, làng Đối, nh­ưng còn miếu thờ thần Đại Vương Linh Quy ở phía Tây Nam của làng Trà Ph­ương là ch­ưa được phục hồi. Theo tôi biết miếu này là thờ thần Đại Vương Linh Quy nằm ở phía Tây Bắc, gần ao Hang (hiện nay ao vẫn còn) cửa miếu h­ướng Tây Bắc, tuy diện tích không lớn nh­ưng rất linh thiêng. Xưa vô cùng nhiều Rùa sống ở ao Hang và toàn lãnh thổ Trà Phương, sau miếu đổ thì Rùa cũng dần biến mất. Việc có ng­ười dùng cuốc bổ vào đầu ông Rùa mà sinh con không mang nổi đầu, đầu thụt ra,  thụt vào như cổ ông rùa vậy,vào những năm 90 thế kỷ tr­ước Quân đội muốn làm đ­ường qua miếu nh­ưng khi san gần đến cửa miếu thì máy xúc bị hỏng, chữa, rồi lại hỏng, họ phải thắp hương xin thần Linh Quy mới kéo máy xúc ra ngoài, công trình này đến nay vẫn bỏ dở. Nay dù miếu đổ nh­ng cây vẫn mọc xanh tốt hơn những khu liền kề. Còn cái gương, cái l­ược, hang bà chúa Thao đâu rồi? chúng ta những ng­ười yêu làng Trà Phương công chúa hãy chung lòng ,chung sức mà trả lại những gì quý báu của đời x­ưa đã xây nên. Tâm linh là vấn đề nhạy cảm, mong chúng ta cùng suy nghĩ và h­ướng đến, làm những điều tốt đẹp cho đời!

Làng Trà Phương chia làm 6 xóm: xóm Núi giáp núi Trà, xóm Trên ở phía Đông xóm có mặt bằng cao hơn cả là khu c­ư trú của họ Nguyễn Công, họ Vũ, xóm D­ưới có mặt băng thấp hơn một chút là nơi c­ ư trú của họ Ngô và họ Nguyễn Công,  xóm Ngoài mặt bằng thấp hơn hai xóm trên là  nơi c­ư trú của họ Ngô Trọng, Nguyễn Đình, Nguyễn Phú, Đặng…, xóm Chợ hay Thành Phủ gọi theo địa danh sau năm 1945 phủ chuyển về làng Đối, dân các họ chuyển ra.

Làng Trà Phương do sự nhà Lê Trịnh diệt nhà Mạc nên dân bản địa phải chạy theo nhà Mạc, rồi có nhiều dòng họ di c­ư đến, có lẽ những họ đến sớm ở nơi cao là họ Nguyễn Công, họ Vũ, họ Ngô Duy, các họ Ngô Trọng, họ Nguyễn Phú, họ Đặng … đến muộn cư trú vùng đất thấp, vùng này khi ch­ưa có đê biển nên thuỷ triều còn ảnh hưởng, những loài cá n­ước lợ nh­ư V­ược, Măng… sống rất nhiều trong đầm hồ, là nguồn thực phẩm cơ bản của dân làng. Thời chiến tranh với Pháp, Mỹ làng Trà Phương là nơi quân đội các bên ta, Pháp th­ường xuyên đến đóng quân, các sắc lính Bộ binh, Phòng không, Lính thuỷ đánh bộ, nên nhiều quan, lính lấy vợ ở lại tạo nhiều họ mới.

Phía Bắc là mả Vối nhìn từ trên cao như con ngựa nằm nghiêng đẹp lắm đầu quya về núi, chân hướng về Văn Hòa, lưng hướng về xóm trong.

Phía Tây Bắc là chùa Thiên Phúc, diện tích khoảng 6 mẫu, sử Việt có ghi tại Trà H­ương, huyện Nghi D­ương: có chùa bà Đanh của ng­ười Chăm bị  nhà Lý bắt làm tù binh buộc ở vùng này dựng nên tại khu mả Đò, ven dòng sông cũ lối sang làng Du Lễ bây giờ, đ­ến Nhà Mạc chuyển xây dựng tại địa điểm hiện nay, đổi tên là Thiên Phúc tự. Chùa có nhiều hiện vật, văn hoá nhà Mạc, nhà Nguyễn, hệ thống t­uợng Phật đ­ược tạc khắc rất tinh sảo, đặc biệt có hai pho t­ượng đá xanh Hoàng đế Mạc Đăng Dung và Hoàng Thái Hậu Nguyễn Thị Ngọc Toản nay thờ ở bên phải, bên trái thờ Tam toà Thánh Mẫu. Phía Đông là nơi thờ tổ trong đó có thờ một vị quan nhà Mạc và ông Tây chồng bà Rĩnh có công xây chùa. Năm 1936- 1938 bà Ngô Thị Dĩnh cháu cụ Ngô Duy Nhất lấy chồng ng­ười Pháp làm Giám đốc Đài thiên văn Phù Liễn, Kiến An bỏ hàng vạn quan tiền để xây lại.  Nội tôi kể: khi xây lại chùa Bà Dĩnh đã lập hai ph­ường thợ nề một bên, ph­ường thợ mộc một bên để thi đua xây dựng cho đẹp và nhanh chóng, xong hội hát đúm dài đến mươi ngày. Cuộc cải cách ruộng đất đã làm bà Rĩnh khánh kiệt, bà phải sống nhờ ng­ười cháu như­ng vẫn giữ đ­ược cốt cách cao sang của ng­ười có thế lực và văn hoá ở đẳng cấp cao. Chiều mùa hè bà th­ường tắm ở ao nhà tôi ( của cụ Hậu để lại chiều dài khoảng 50*20 m, rất nên nư­ớc trong, mát, ven bờ trồng rau muống, có cầu ao là bia đá xanh ở giữa bờ chính h­ướng Nam (chẳng hiểu vì sao bia lại làm cầu ao, cứ nghĩ đến những cổ vật khiến lòng tôi sao xuyến). Tôi khoảng 5- 6 tuổi phải ngồi trên bờ đợi bà tắm xong mới dám xuống bơi lội (vì có thể làm nư­ớc đục) Giờ đã cao niên nhớ lại bà Rĩnh tuyệt đẹp, cao khoảng 1m 55, khuôn mặt hơi tròn, cằm tròn bầu, mắt sáng thần thái rất ung dung, da trắng hồng hào, đặc biệt hai bầu vú của bà tròn, nhũ hoa vẫn t­ươi hồng dù bà đã hơn 70 tuổi rồi, thật là tuyệt tác của tạo hoá, (đúng là gái Trà Phương Công chúa).  Năm 1936 – 1938 sửa chùa Thiên Phúc,  dựng chợ Phủ, năm 1945 dân làng đói bà đem tiền về phát chẩn. Ôi !buồn thay đào hoa bạc mệnh, chồng Tây về nước bà ở lại, cải cách đã tước đi tài sản nên về già bà sống cô quả, lúc chết con cháu không quan tâm đến nay không rõ mả ở đâu?

H­ướng Tây  là dòng sông nay là đầm, hai bên là Mả Đò, phủ Kiến Thụy, ngôi mộ của ông Ngô Duy Nhất cao khoảng 2m, đ­ường kính khoảng 7 m. Ông Nhất đ­ược cụ chánh tổng Nguyễn Công  Hậu gả con gái là bà Nguyễn Thị Tô, cho ăn học và tranh tài đ­ược chức chánh tổng Trà H­ương và sinh đ­ược ngành thứ II của họ Ngô Duy, sau có con là chánh Linh nổi tiếng giàu có và thế lực trong vùng, nay còn ngôi nhà thờ lớn ở giữa làng có hệ thống thờ tự to, đẹp nhất làng.

Phía Tây Nam là ngôi đình Cả, nền đình cao hơn mặt bằng xung quanh khoảng 1,5 m, rộng khoảng 6 mẫu, đ­ược dựng vào thời nhà Lý, s­ưả lại thời nhà Mạc. Đình 5 gian mở cửa hướng Tây, cao khoảng 3,5 m, 20 m, rộng khoảng 5 m, cửa bước bàn năm gian, hậu cung ở gian chính giữa, bộ đồ thờ gồm long đình, bát biểu, cột gỗ lim hơn người ôm, có đôi câu đói lòng mo, bức đai tự cao hơn 1m, rộng hơn 3 m, đều sơn son thiếp vàng tự bao giờ? các vị cao niên kể bao giờ đồ thờ cũng sáng đẹp. Hậu cung thờ thành hoàng là bà công chúa nhà Lê tức Hoàng Thái Hậu Nguyễn Thị Ngọc Toản và Thiên thần Vọng Hào( nên làng tôi kiêng húy gọi tiền hào là hầu.  Đến những năm 60 của thế kỷ tr­ước bị tháo dỡ một phần đ­ưa vào chùa và làm việc công, nay nền xây tr­ường học cấp II. Khi chiến tranh học sinh đào giao thông hào thấy nhiều bạc nén đ­ược xếp thành từng khối bọc gỗ, khu nhà ông chánh Khảm đào xuống cũng thấy nhiều bạc nén có ng­ười lấy đ­ược hàng gánh, phía Đông và Đông Bắc có hàng cây duối cao to gốc  đường kính khoảng 20- 30 cm, làm bờ rào, đào xuống cũng gặp bạc và gạch vồ loại 45cm*15 cm* 15 cm. Phía Tây có cây gạo cỡ hơn ba người ôm, cây lim hơn người ôm và hàng cây xanh rất đẹp, phía Tây bắc có một cây nhãn cao, gốc vòng to đến 3 ng­ười ôm. Khi tôi còn bé ra đình tôi thấy đình đã bị phá, chỉ còn nhà fụ 5 gian gỗ lim, lợp ngói mũi quay h­ướng Nam, những phiến đá xanh làm hè dài vài ba mét cao khoảng 35 cm, rộng 40 – 45 cm, đá tảng đường kính cỡ 45- 50 cm, khiến ta tưởng tượng ngôi đình to, đẹp biết nhường nào? Buồn thay ng­ười đời nay không trọng việc của ng­ười x­ưa, không bảo tồn thì chớ lại còn phá của tiền nhân, thật buồn thay!

Đầu thế kỷ 20 phủ Kiến Thuỵ đ­ược xây dựng ở phía Tây Băc dân gọi là thành phủ, hình vuông 300 X 300 m, cửa phủ mở hư­ớng Nam, ng­ười Pháp xây dựng theo kiểu thị trấn có b­ưu điện, chợ… . Phiá Nam có  đ­ường đi ven đầm nối ra chùa Mục đồng sang làng Phương Đôi để đi đò Vọ, đi ng­ược lại là đ­ường qua cửa Chùa qua giữa làng ,qua Thanh Sơn đi lên Kiến An, đ­ược giải đá cấp phối, dân gọi là đường Tây. Phía Bắc, Đông, Tây đắp thành cao khoảng 5m, bề mặt rộng khoảng 10m, phía ngoài trồng tre gai, tiếp đến là hào sâu, phía đông còn có hào ngoại nay là đ­ường sang Phương Đôi. Chợ Phủ phía  Đông Nam giáp chùa.

Phía Tây cửa chùa là bến cho thuyền các nơi về buôn bán, tháng Dậu hàng năm là nơi hát đúm, hội chùa Trà Phương, nay bị bồi thành đầm cấy lúa hai mùa, chẳng còn cảnh x­ưa nữa thật là:

……..

Lịch sử không biết có ghi lại những sự kiện liên quan đến làng Trà Phương với nhà Mạc hay không? nh­ưng truyền thuyết thì đời nhà Mạc làng tôi v­ướng vào chuyện có ng­ười làng Trà Phương lấy Hoàng Đế Mạc Đăng Dung, khi nhà Lê- Trịnh diệt Mạc đã tàn phá, triệt mạch làng Trà Phương bằng đào các con kênh và các ao ngang dọc để phá huỷ toàn bộ sự tốt đẹp của phong thuỷ mà Trời Đất đã ban cho làng, nên đến nay cũng ch­ưa mạnh nên đ­ược. Theo Nội tôi kể khi Mạc Đăng Dung đi thi võ tại Thăng Long đỗ Đô lực Sĩ về quê qua làng Trà Hương, thấy ng­ười con gái đang cấy lúa ông hát lời ghẹo:

…………………………

Từ lời hát hai bên đã tạo nên mối tình mà còn đọng trong truyền thuyết của vùng Thất Quận.

Làng Trà Phương là tên mới cổ là Trà Hương năm 1813 nhà Nguyễn cho là phạm húy đổi thành Trà Phương. Trà Hương dịch theo tiếng Hán là: hương trà thơm, xưa hay lấy địa danh theo một vật thể ở vùng đó, có thể núi Chè ngày xưa có loại chè ngon mọc tự nhiên chăng nên gọi là Trà Hương? Trên không ảnh ta nhấy phong thủy làng thật tuyệt vời, nếu theo trục Đông- Tây, từ xa dãy núi Đồ sơn là Thanh Long, dãy núi Phù liễn là Bạch Hổ, Hậu là núi Trà, Tiền là đầm Phủ xưa là dòng sông. Nhưng theo thuyết của Dương Quân Tùng thì lại rất xấu với những công trình cửa quay hướng Tây, nhìn lại lịch sử ta thấy: Đình bị phá, Chùa sát chủ và cô quả, nhà thờ của ông chánh Linh sát chủ, Phủ Kiến Thụy đối với Mả Đò âm sát dương, dù đẹp và hiện đại vậy mà tồn tại không quá một Giáp. Theo gia phả các dòng họ thì mới thiên di đến không quá 250 năm, có thể dân bản địa phải thiên di theo nhà Mạc sau năm 1592, dân mới đến chắc lại phải thiên di trước 18029 (khi Gia Long lên Ngôi) có phải dân ở đây liên quan đến nhà Tây Sơn chăng? Đến thời hiện đại nhiều sắc lính về : tên lửa bắn từ Mả Đò quần nát tâm linh, đến nay ai trồng cấy trên đất này cũng gặp tai họa, Núi Trà là bia để tập bắn, Mả Vối nhìn từ trên cao như con ngựa nằm nghiêng đẹp làm vậy ai đã xẻ ngựa ra nhiều mảnh thương thay? Dân cư ở vùng đất cao hơn, vùng đất canh tác sao nhiều ao sâu và to đến vậy?  Miếu Đại Vương Linh Quy, Đình Cả người làng ta phá mấy người muốn tạo lại? Ao đình có thể chứa nhiều bí ẩn thời nhà Mạc bị hút đi nhiều di vật mà ai biết?…

Sự tàn phá phong thủy có hay dở không? Ta có thể ngược dòng lịch sử thấy cách đây khoảng 150 năm làng ta dân số có thể không quá 600 người? theo gia phả các họ ta thấy các đời xuất đinh không quá 20 mà dựng lên ba Đình là: Con Dơi, Tân thôn, Phúc. Nay cả xã có 4 chi bộ làng Trà 2 mà số đảng viên ra tranh cử đa số bị tượt, từ lâu người làng ta không có người thành đạt cả về Văn, Võ đến hoạt kinh doanh…?

Những năm 60 thế kỷ trước ta có trồng hàng dừa ven đường Tây đó là vô hình ta đã hóa giải một phần sát khí, mà đã tạo nên những kỳ tích của HTX Bình Minh với sáng kiến cào cỏ… được hai phó Thủ tướng về thăm, dân quân bắn rơi máy bay AD6 của Hoa Kỳ… Rồi ai lại tàn phá hàng Dừa lòng ta có thấy đau không? Chùa ta đó, ngôi chùa Thiên Phúc tên, và cảnh vật đẹp làm sao, mà dân làng mấy ai? chăm lo, hay chỉ nói xấu sư, nếu không có Hòa thượng Thích Quảng Mẫn Thì chùa ra sao? Việc làng ai lo? Thành tích thì ai cũng thấy, ai cũng lấy ta không cần bàn đã có nhiều người và đoàn thể nhận rồi?

Vài thiển nghĩ thô thiển xin bầy tỏ với các bậc cao niên và dân làng để cùng nhau suy nghĩ và có nhiều sáng kiến hay để xây, để dựng làng  Trà Phương ngày càng tốt đẹp, cho hậu duệ ngày càng phát triển mà sánh cùng thiên hạ, thì tiền nhân mới thỏa lòng, chứ cứ theo cách nghĩ, cách làm cũ e rằng chúng ta có lỗi với tiền nhân và hậu duệ?

Trà Phương mùa Thu, năm Kỷ Sửu.

Kể chuyện làng , ai? cũng tô hồng nhất là ở nơi xa, càng tô hồng bạn chẳng có gì để xác minh đành nghển cổ mà nghe họ bốc phét. Nhưng đừng nên soi xét quá đáng thực ra mình cũng có máu ấy đấy.

Giếng cổ đang bị bỏ hoang

Làng tôi, làng Trà Phương, câu ca cổ: Cổ Trai Đế Vương – Trà Phương Công Chúa. Mà thật làng Cổ là nơi phát tích triều nhà Mạc. Mà thật con gái làng Trà từ xưa đến nay có rất nhiều người đẹp. Một trong những người đẹp mà tôi biết là bà Ngô Thị Rĩnh (19 – 196 3) đẹp đến nỗi người Pháp giám đốc đài thiên văn Phù Liễn mê và lấy làm vợ. Vào những năm 1960 tôi khoảng 5-6 tuổi chiều hè ra tắm ở cầu ao của cụ tổ Nguyễn Công Hậu (cách tôi 7 đời, bà cũng là cháu ngoại 5 đời của cụ chánh Hậu), tôi phải ngồi đợi Bà tắm xong mới dám nhẩy xuống bơi lội thỏa thuê vì nếu không nước ao bị đục Bà sẽ không vui. Nay quá  nửa đời người ngẫm lại thấy Bà quả là người phụ nữ làng Trà đẹp tuyệt vời. Bà cao khoảng 1 m52 – 1m 54, dù đã khoảng 70 tuổi nhưng da vẫn trắng hồng, gương mặt tròn, rất phúc hậu, mắt dài, mày lá liễu, mũi thẳng, miệng nhỏ, đôi moi hồng như đánh son, cằm tròn có lọng, người cân đối đặc biệt đôi bầu vú của bà tròn căng trắng mịn ,đôi nhũ hoa vẫn hồng tươi, chắc rằng nhiều thiếu nữ nhìn thấy cũng phát thèm , sao của mình không bằng một phần của bà. Bà nói rất nhẹ, có hôm bà nói với tôi: cháu lấy xaphong mà gội đầu, tôi sợ không dám, nhưng tắm xong bà vẫn để lại tấm xàphong ấy, tôi dùng nó gội đầu. Đã gần hơn 50 năm rồi tôi vẫn nhớ mùi thơm của xaphong ấy ,không biết hiệu gì nhưng mùi thơm rất dịu mát.

Năm 1936-138 Bà cùng chồng  là người Pháp, người Việt ghi là Nguyễn Di Đăng  đã sửa chùa Thiên Phúc hơn vạn bạc Đông Dương, năm 1945 cứu  đói cho dân làng Trà Phương  trăm bạc, mở chợ Phủ,  vay quỹ 6 trăm bạc để làm việc công cho làng Trà, còn ghi trên bia ở chùa Thiên Phúc. Hồng nhan bạc phận, khi ông Di Đăng mất thi hài đưa về Pháp Bà ở lại, CCRĐ bà bị tước đoạt hết tài sản, sống cô quả ở làng Trà. Nhìn lại lịch sử  làng tôi về việc trên, tôi chê những người đã mang ơn bà mà không quan tâm đến bà lúc về già, nhưng chắc là bề trên cũng thử họ, nên tạo nên cuộc sống cô quả cuối đời của bà để xem lòng người đấy thôi?  mọi vệc đã rõ lòng tôi nhuốm buồn.

Quê tôi như dải lụa điều
Phất phơ trước gió tôi yêu suốt đời
Có bà Công Chúa một thời
Đem lại no ấm cho người dân quê

Mõi khi đến độ xuân về
Muốn làm ngọn gió gửi về quê tôi
Để cho sức sống một thời
Bừng lên trong mỗi con người quê tôi

Từ trước đến nay tôi chưa tìm được tài liệu ghi phái nam đã lập công cho đời, nhưng hiển hiện phái nữ làng tôi đã có Thái Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toàn, bà Ngô Thị Dĩnh là tấm gương vì nước, vì làng. Theo thư tịch cổ khoảng năm 1040 Lý Thánh Tông thắng người Chiêm khi về Thăng long qua Trà Phương đã an trí tù binh tại làng  Trà Phương, họ sống đã ở cửa biển này, dấu vết  họ đã dựng nơi thờ thần của họ nay còn phần móng bên bờ sông, nay bờ đầm ở phia  Tây mả Đò , có phải chăng là dân vùng biển nên họ đã dùng thuyền trở về đất cũ, nơi thờ cúng bỏ hoang mà dân làng tôi gọi là chùa Bà Đanh? …  Ai biết thêm xin bổ xung Cám Ơn!


 

 

  Thái Hoàng Thái Hậu nhà Mạc Vũ Thị Ngọc Toàn
(3/20/2010 10:46:26 PM)

 

 

Thái Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toàn người làng Trà Hương huyện Nghi Dương xứ Hải Dương, nay là thôn Trà Phương, xã Thuỵ Hương, huyên Kiến Thụy Hải Phòng. Trước khi hợp tác xã nông nghiệp cải tạo đồng ruộng, làm lại bờ vùng, bờ thửa, nếu đứng về đỉnh núi Chè nhìn xuống một cánh đồng màu gần chân làng thấy rõ hình một gương tròn, một chiếc lược và con dao nhỏ. Thế đất ấy, theo các nhà phong thủy giải thích làng Trà Phương xưa thường sinh con gái có nhan sắc, đức hạnh. Người ta thường nêu tên Hoàng Hậu Vũ Thị Ngọc Toàn, vợ đích của vua khai sáng nhà Mạc là Mạc Đăng Dung. Câu phương ngữ ‘Cổ trai Đế Vương, Trà Hương Công Chúa’ được dùng để chứng minh thuyết phong thủy trên.
Sử liệu chính thống hiện không có thông tin gì về bà, nhưng sử liệu điền dã và nhất là bia thời Mạc nói về bà rất nhiều. Hai nguồn sử liệu này đều thống nhất ca tụng vị Thái Hoàng Thái Hậu này ‘là bậc thánh mẫu của thánh triều, chính vị Đông trào, hóa thành nam quốc, sánh đức thánh thiện Đồ Sơn (nhà Hạ)’ (Văn bia ghi việc trung tu chùa Bảo Lâm xã Trâu Bộ huyện Giáp Sơn). Dân vùng Kiến Thụy, An Lão nay còn truyền dải đất ven đầm từ trang Tiên Cầm đến Kỳ Sơn tục gọi là giải yếm bà Chúa là ruộng thái hậu ban cho dân Trà Phương. Riêng về việc bà đứng hưng công xây mới, sửa chữa chùa chiền, cầu quán, chợ búa còn khá nhiều như chùa Sùng Quang xã Do Nghi huyện Vĩnh Lại, chùa Thánh Thọ xã Hoàng Trạch huyện Cẩm Bình, chùa Sùng Ân xã Thọ Lão huyện Phù Tiên, chùa Bảo Thúc xã Thái Khê huyện Yên Hưng, chùa Bảo Lâm xã Trâu Bộ huyện Giáp Sơn, chùa Báo Ân xã An Chiểu huyện Phù Tiên, chùa Phổ Chiếu xã Văn Lan nay là thôn Văn Hòa, chùa Bà Đanh nay là Thiên Phúc Tự, xã Trà Hương nay là thôn Trà Phương, chùa Trúc Am thôn Du Lễ đều thuộc huyện Kiến Thụy; chùa Hà Lâu xã Đông Minh nay là thôn Đông Ninh, chùa Minh Phúc và cầu Quán ở xã Cẩm Khê nay là thôn Cẩm Khê đều thuộc huyện Tiên Lãng.
Số tiền, ruộng bà cúng cho các nhà chùa không nhiều, nơi ít nhất là 10 quan tiền như chùa Báo Ân xã An Chiểu, nơi nhiều nhất là chùa, cầu, quán xã Cẩm Khê do bà hưng công, sau lại mua cho xã 5 mẫu ruộng trị giá 120 lạng bạc.

Riêng chùa Bà Đanh ở quê, bà cũng chỉ cúng có 1 mẫu 9 sào ruộng, nhưng ruộng “dải yếm bà Chúa diện tích rất lớn kéo dài từ Thượng trí Tiên Cấm Hạ chí Kỳ Sơn. Sự hay của dải đất này là theo hướng Bắc Nam thì ruộng bắt đầu từ cửa chùa Thiên Phuc làng Hoà Liễu ruộng có diện tích 2,5 mẫu, dải yếm uốn lượn lên phía Bắc khoảng vài trăm mét thuộc địa phận thôn Tiên Cầm rồi lại uốn xuống làng Liễu xuôi về làng Trà dải ấy lại rộng thành đầm diện tích hàng ngàn mẫu ruộng và tiếp uốn lượn xuống phía Nam đến làng Kỳ Sơn và lại uốn lên phía Bắc khoảng vài trăm mét đến cửa chùa Ngọc kết thúc là diện tích 3 mẫu ở cửa chùa này. Như vậy diện tích dải Yếm này dài khoảng hơn 10 km, rộng 20m, đầu phía bắc diện tích là 2,5 mẫu, đoạn giữa thuộc địa phận Trà Phương rộng hàng ngà mẫu chính là đầm cửa chùa Thiên Phúc kết thúc là 3 mẫu ruộng cửa chùa Ngọc. Nếu ta nghiên cứu sẽ thấy sự kỳ diệu của ruộng dải yếm bà Chúa về hình thể uốn lượncũng như diện tích của nó.
Nhưng những nơi bà có tham gia đóng góp dù ít dù nhiều đều thấy có nhiều hoàng thân, quốc thích, đại thần văn võ tham gia đóng góp.
Có thể nói Thái Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toàn có công với việc bảo vệ di sản văn hóa dân tộc.

(Theo Văn bia thời Mạc Địa chí Hải Phòng. Hồ sơ di tích của Bảo tàng Hải Dương, tư liệu điền dã)

Đăng tải tại Uncategorized | Bình luận về bài viết này

TRUYỀN THUYẾT VỀ MẠC THÁI TỔ & THÁI HOÀNG THÁI HẬU HỌ VŨ

MẠC THÁI TỔ & THÁI HOÀNG THÁI HẬU HỌ VŨ

TRUYỀN THUYẾT VỀ MẠC THÁI TỔ & THÁI HOÀNG THÁI HẬU HỌ VŨ

Một số tư liệu về làng Trà Phương liên quan đến nhà Mạc

Trên núi Trà Phương nhìn về phương Nam thấy thật tuyệt vời biển, núi, sông, đồng ruộng và những khu dân cư trù phú, xa xanh là dãy núi đảo Cát Bà và biển Đông dạt dào sóng vỗ, gần là dãy núi Đồ Sơn. Ta có thể tự đo tầm mắt thấy giữa núi Trà Phương và dãy núi Đồ Sơn là Tổng Cổ Trai nơi sinh Hoàng Đế Mạc Đăng Dung, người đã xây dựng một triều đại đầy tranh cãi của lịch sử, nhưng những vật thể và phi vật thể cho ta thấy tầm vóc huy hoàng của triều đại này. Đặc biệt trong việc tổ chức lễ trọng 468 năm ngày kỵ của Mạc Thái Tổ 23/8 năm Kỷ Sửu tại Cổ Trai ta càng thấy hiển hiện sự hùng mạnh của hậu duệ Hoàng Đế Mạc Đăng Dung.

Giờ Thìn, ngày 5 Tết, năm Bính Tuất tôi và con trai Nguyễn Công Khanh lên núi Trà Phương, đây là ngọn đồi, cùng với đồi Đối cách đó khoảng 1km đường chim bay về phía Đông Bắc là vệt kéo dài của rặng núi Phù Liễn xuống quần đảo Đồ Sơn(xưa) thấy cảnh quê tôi đẹp và nên thơ vô cùng. Trên giữa ngọn đồi thân yêu, tôi nói với con: Tạo hoá thật tuyệt, đồi này cũng thể hiện tính Âm Dương, Ngũ hành, phía Tây thuộc Kim ngay chân đồi bị người tàn phá nên dốc đứng, cây mọc yếu, phía Đông thuộc Mộc, phía Bắc thuộc Thuỷ nên cây xanh tốt, phía Nam thuộc Hoả nên trơ cằn sỏi đá.

Làng Trà Phương xưa phía Đông là núi Trà. Phía Tây nhìn ra dòng sông từ Tiên Cầm chảy xuống Cổ Trai đổ ra Đồ Sơn. Phía Bắc là sông nhỏ chảy sát núi Trà đổ về Cổ Trai. Phía Nam nối với làng Quế có thể liền với làng Cổ. Nếu lấy núi Trà làm trung tâm thì phía Đông là núi Đối và sông Đa Độ. Phía Tây là đầm chùa vết tích của nhánh sông Văn Úc, PhíaNamlà làng Cổ Trai, dãy núi Đồ sơn. Phía Bắc là dãy núi Phù Liễn như đàn ngựa đang mải miết phi về phươngNam. Phong thuỷ làng Trà nếu lấy trục Đông Tây mà xem thì: hậu là núi Trà là núi Đối và sông Đa Độ, tiền là sông Văn úc, tả Thanh Long là dãy núi Đồ Sơn dài như rồng bay ra biển cả, hữu là dãy núi Kiến An như Bạch Hổ vậy.

Làng ta đâu là trung tâm, phải có những nhà phong thuû thâm hậu mới biết được?

Làng Trà Phương cổ tên là Trà Hương năm 1813 nhà Nguyễn cho là phạm húy đổi thành Trà Phương. Trà Hương dịch theo tiếng Hán là: hương trà thơm, xưa hay lấy địa danh theo một vật thể điển hình ở vùng đó, có thể núi Chè ngày xưa có loại chè ngon mọc tự nhiên chăng nên gọi là Trà Hương?

Làng Trà  nằm trên vùng đất Dương Kinh xưa, nơi sinh của Thái Hoàng Thái Hậu đầu triều nhà Mạc, Người đã góp phần đưa chàng dân chài Mạc Đăng Dung từ đất Cổ Trai tiến lên Thăng Long lập nên nghiệp Đế. Trong không gian Bắc Việt còn ghi lại một phần công lao của Mạc Thái Tổ và Thái Hoàng Thái Hậu thể hiện trong ký ức của dân, tại các công trình kiến trúc, đặc biệt là tại đình làng Trà Phương, xã Thụy Hương, Kiến Thụy Hải Phòng có tượng  Mạc Thái Tổ và Thái Hoàng Thái Hậu tạo bằng đá xanh, đáng tiếc đình đã bị phá vào những năm 60 của thế kỷ XX.

Trên không ảnh ta nhấy phong thủy làng Trà rất đẹp, nếu theo trục Đông – Tây, đầm Phủ là Chu Tước. Nhưng theo thuyết phong thuỷ của Dương Quân Tùng thì lại rất xấu với những công trình cửa quay hướng Tây, nếu khởi công vào ngày sát chủ- không vong.

Bốn phương Trời – Đất:

Phía Đông là núi Trà Phương Núi Trà Phương xưa gọi là núi Trà Sơn thuộc địa phận thôn Trà Phương, tọa độ 20 0, 44’, 20”B; 106 0, 39’, 30” Đ, cao 52 m, sách “ĐạiNamnhất thống chí” viết: núi này cách huyện Nghi Dương, phủ Kiến Thụy, tỉnh Hải Dương 7 dặm về phía Tây. Sách “Hải Dương toàn hạt dư địa chí” cho biết núi Trà Sơn, tại xã Trà Sơn, tổng Trà Hương, huyện Nghi Dương, phủ Kiến Thụy, tỉnh Hải Dương, cao 30 trượng, rộng khoảng 1000 mẫu. Chân núi có đền Linh Quy (Rùa Thiêng), trong sân đền có một khối đá thiêng hình Rùa nổi lên, bên cạnh có giếng rất ngon. Trong vùng đầm ao, sản nhiều rùa, dân không dám bắt, không cho mang ra khỏi làng; dân quanh vùng cũng thờ thần Linh Quy.

Nhiều di tích xung quanh núi Trà là phế tích nay một số được phục dựng như: chùa Vĩnh Khánh, Chùa Linh Sơn, nhưng miếu Đại Vương Linh Quy ở phía Tây Bắc làng Trà là ch¬ưa được phục dựng. Miếu này nằm ở gần ao Hang (hiện nay ao vẫn còn) cửa miếu hướng Tây Bắc, tuy diện tích và kiến trúc không lớn nhưng rất linh thiêng, được dựng khi con người đến cư trú ở vùng này. Xưa cây các loại mọc um tùm bốn mùa tươi tốt, chim chóc bốn mùa ca hát, dưới nước vô cùng nhiều thuỷ sản và Rùa sống ở ao Hang và toàn lãnh thổ Trà Phương, làm chốn này như bồng lai tiên cảnh, sau miếu đổ, người phá thì Rùa cũng dần biến mất. Có nhiều câu chuyện về sự báo ứng với những người do vô tình hay cố ý xâm phạm vào miếu, đến nay vẫn còn được nhắc nhở. Vào những năm 90 thế kỷ trước, Quân đội muốn làm đường qua miếu nhưng khi san gần đến cửa miếu thì máy xúc bị hỏng, chữa, rồi lại hỏng, họ phải thắp hương xin thần Linh Quy mới kéo máy xúc ra ngoài. Nay dù miếu đổ nhưng cây vẫn mọc xanh tốt hơn những khu liền kề che mát khối đá thiêng hình ông Rùa, chim chóc vẫn sáng chiều ca hát cho Đại Vương Linh Quy suy ngẫm sự đời.

Núi Trà còn nhiều di tích đã đi vào huyền thoại, như hang Chúa Thao, bà Chúa Phấn …Hai cây quéo ở hai đầu núi phía Namgần khu nhà ông Thuỵ, hai cây quéo ở phía Bắc ở khu giếng Đối đều cao hàng chục mét, gốc to đến vài người ôm, sự chết của 4 cây này gắn với với huyền thoại về người Tầu giấu vàng và lấy đi vào cuối thế kỷ XX.

Xưa trên núi Trà nhìn về phía Tây, trên cánh đồng Hương thấy ruộng tạo nêm hình cái gương, cái lược, diện tích mỗi cái khoảng 2 sào, trước CCRĐ ông Khôn trưởng tộc Ngô Duy cấy lúa, trồng khoai đều ngon hơn những thửa ruộng bên, đặc biệt khoai lang vỏ màu trắng gọi là khoai chuột lột to như nắm dao ăn bở thơm ngon như bánh khảo. Cổ nhân truyền rằng cái gương, cái lược là biểu tượng của Thái Hoàng Thái Hậu.

Khoảng những năm đầu thế kỷ XXI người canh tác mới đã xoá mất hai biểu tượng này.

Phía Bắc: Có đình Phúc cửa quay hướng T©y, hậu cung dựa vào mả Vối, khuôn viên 60* 60 m kiến trúc đang được sưu tầm vì đình bị phá vào những năm 50 thế kỷ XX, cách vài trăm mét là mả Vối nhìn từ trên cao đẹp như con ngựa nằm nghiêng đầu quay về núi, chân hướng về Văn Hòa, lưng hướng về xóm Trong, những năm 60 thế kỷ XX hài cốt táng ở mả Đò được dồn về đây để khu ấy làm trận địa tên lửa. Mả Vối nay các lăng mộ đang được xây dựng như thành phố dành cho người đã khuất.

Phía Tây Bắc: có chùa Thiên Phúc, diện tích khoảng 6 mẫu, sử Việt có ghi tại Trà Hương có chùa của ng¬ười Chăm bị nhà Lý bắt làm tù binh buộc ở vùng này dựng nên, sau người Chăm bỏ về Nam nơi thờ bỏ hoang người Việt gọi là chùa Bà Đanh nay con dấu tích tại khu mả Đò, ven dòng sông cũ lối sang làng Du Lễ. Theo văn bia dựng năm Thuần Phúc sơ niên 1565 có thể là năm Thái Hoàng Thái Hậu họ Vũ người làng Trà, cùng 22 thân vương nhà Mạc hưng công xây chùa tại địa điểm hiện nay. Nay đổi tên là Thiên Phúc tự, chùa có nhiều hiện vật, tuợng Phật được tạc khắc rất tinh xảo mang nét văn hoá thời Mạc, thời Nguyễn, đặc biệt có tượng đá xanh Hoàng đế Mạc Đăng Dung và Thái Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toản nay thờ ở bên phải, bên trái thờ Tam toà Thánh Mẫu. Phía Đông là nơi thờ tổ trong đó có thờ một vị quan nhà Mạc là Mạc Chúc Hiên và một người Pháp đã có công quản lý, xây, sửa chùa. Cửa chùa là bến cho thuyền các nơi về buôn bán, tháng Dậu hàng năm là nơi hát đúm, hội chùa Trà, nay bị bồi thành đầm cấy lúa hai mùa. Hướng Tây xưa là sông tuyến vận chuyển muối lên Thăng Long, nơi xẩy ra nhiều trận thuỷ chiến giữa người Nam và phong kiến phương Bắc, giữa nghĩa quân Nguyễn Hữu Cầu, Phan Bá Vành và nhà nước phong kiến nước Nam. Bên bờ phía Nam là Mả Đò, bờ phía Bắc là phủ Kiến Thụy. Bờ phía Đông có mộ tiền nhân Ngô Duy Nhất cao khoảng 2m, đường kính khoảng 6 m, nằm khoảng giữa đình và chùa, ngài là hậu duệ đời thứ 2, tổ ngành thứ II của họ Ngô Duy, cuối thế kỷ XIX có hậu duệ là chánh Linh nổi tiếng giàu có và thế lực trong vùng, nay còn ngôi nhà thờ lớn ở giữa làng có bức Đại tự to, đẹp nhất làng.

Phía Tây Nam: có đình Cả, nền đình cao hơn xung quanh khoảng 1,5 m, rộng khoảng 6 mẫu, được dựng vào thời Lý, sưả vào thời Mạc, thờ ba thành hoàng là: Thiên thần Vọng Hào (nên làng tôi kiêng húy gọi tiền hào là hầu và các chữ có liên quan đến từ hào đều được đọc trại đi), Hoàng Đế Mạc Đăng Dung vµ Hoàng Thái Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toản.

Đình Tân ở gần đình Cả, bên bờ đầm có cây Đề gốc to đến mấy người ôm, ngọn cao vài chục mét nơi bốn mùa chim từ khắp phương trời về đây sinh sống và ca hát cho dân làng hóng mát dưới bóng cây, lấy nhựa dính chuồn chuồn để bẫy chim bẻo, vỏ nhuộn áo quần, tất cả  đều bị phá khoảng những năm 60 của thế kỷ XX. Dưới gốc cây Đề là bến đò vượt sông cổ sang trang Du Lễ, trang có nhiều người đỗ đạt về văn võ, có hai đền thờ quan võ là Trương Nữu và Vũ Hải đã lập nhiều chiến công trong sự nghiệp chống xâm lược phương Bắc.

Phía Tây Bắc: có phủ Kiến Thuỵ được người Pháp xây dựng đầu thế kỷ XX, hình vuông 300 X 300 m, cửa phủ mở hướng Nam, xây dựng theo quy hoặch thị trấn có bưu điện, chợ… . có  đường đi ven đầm ra chùa Mục đồng sang làng Phương Đôi để đi đò Vọ, đi ngược lại là đường qua cửa Chùa đi Kiến An, được giải đá cấp phối khi phủ Kiến xây xong. Phía Bắc, Đông, Tây phủ đắp thành cao khoảng 5m, bề mặt rộng khoảng 10m, phía ngoài trồng tre gai, tiếp đến là hào sâu, phía Đông còn có hào ngoại nay là đường sang Phương Đôi. Chợ Phủ giáp chùa xưa là nơi buôn bán sầm uất hàng huyện.

Dân cư

Nay Trà Phương nay chia làm 5 xóm, con số này có nói nên điều gì không? xóm Núi giáp núi Trà, xóm Trên ở phía Đông xóm có mặt bằng cao hơn cả là khu cư trú của họ Nguyễn Công, họ Vũ, xóm Dưới là nơi cư trú của họ Ngô và họ Nguyễn Công, xóm Ngoài mặt bằng thấp hơn hai xóm trên nơi cư trú của họ Ngô Trọng, Nguyễn Đình, Nguyễn Phú, Đặng, Vũ Văn…, xóm Chợ sau năm 1945 phủ chuyển đi, dân các họ chuyển ra.

Theo gia phả các họ ở làng thì họ thiên di đến sớm nhất không quá 250 năm? có thể dân bản địa phải thiên di theo nhà Mạc sau năm 1592, dân mới đến chắc lại phải thiên di trước 1802 khi Gia Long lên ngôi có phải dân ở đây liên quan đến nhà Tây Sơn? Thời chiến tranh với Pháp, Mỹ làng Trà là nơi các sắc lính Bộ binh, Phòng không, Lính thuỷ đánh bộ quân đội của ta, Pháp th¬ường xuyên đến đóng quân,  nhiều quan, lính lấy vợ ở lại nên thành nhiều họ mới. Dân số khoảng ?        tuyệt đại đa số là người Kinh. Từ xưa đến nay danh tiếng người làng Trà vượt qua lũy tre làng lại là nữ nhân: Thái Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toản, Người mua ruộng của nhà nước cho dân quê hương sử dụng không phải nộp thuế gồm: 2 mẫu 5 sào trước cửa chùa Hoà Liễu, là bến đỗ thuyền của Người, theo thuyền Người về thăm làng Trà quê nội, xuôi về quê chồng Cổ Trai, trên dòng ấy dài khoảng 10 km rộng khoảng 20 m và 3 mẫu ở bến thuyền chùa Ngọc là đất dân làng Trà được cấy lúa, thu hoặch để làm quỹ phúc lợi. Dân gọi là ruộng dải Yếm Bà Chúa từ “Thượng chí Tiên Cầm hạ chí Kỳ Sơn”. Dòng ấy bao giờ cũng sâu hơn hai bên vài chục cm, lúa trên dòng ấy bao giờ cũng xanh tốt, đặc biệt gạo ăn thơm ngon hơn gạo ruộng bên cạnh. Sau năm 1592 nhà Lê – Trịnh thắng nhà Mạc, vì tính tiểu nhân họ đã đưa hơn 1000 quân về Dương Kinh trong 100 ngày tàn phá hết công trình kiến trúc của triều Mạc, thu ruộng dải Yếm Bà Chúa của làng Trà cho các làng lân cận cấy và bao nhiêu ruộng của Người cho làng Trà bị nhà Lê – Trịnh thu nay chưa biết được.

Đầu thế kỷ XIX nhà Nguyễn nắm quyền, Ngô Duy Nhất người làng Trà, được bố vợ chánh tổng Nguyễn Công Hậu giúp nên có thời làm quan trong triều nhà Nguyễn đã kiện lên vua Nguyễn về sự nhà Lê -Trịnh thu ruộng “dải Yếm Bà Chúa” của làng Trà. Sau nhiều năm tranh tụng nhà Nguyễn đã xử cho dân làng Trà được sử dụng ruộng dải Yếm Bà Chúa như thời nhà Mạc. Dân làng Trà trả ơn bằng cho gia đình chánh tổng Ngô Duy Nhất được sử dụng vĩnh viễn 3 mẫu ruộng ở làng Kỳ Sơn, còn diện tích 2 mẫu 5 sào cửa chùa Hoà Liễu và ruộng dải Yếm Bà Chúa dân làng sử dụng như lệ thời nhà Mạc. Bây giờ dòng ấy đã bồi, chính thể mới cắt đất cho các làng bên sử dụng.

Tại thôn Hòa Liễu có chùa Thiên Phúc do Thái Hoàng Thái Hậu xây và miếu thờ Thái Hoàng Thái Hậu người con của làng Trà. Đây là di chỉ nhà Mạc với những tượng Phật bằng đá, đặc biệt tượng Thái Hoàng Thái Hậu ở miếu lại được tạc vào phần nổi của một phiến đá cao khoảng 3 m, còn một phần chôn xuống đất, xung quanh là giếng nước. Bia đền thờ Người khắc “ngày 18 tháng 4, năm Tân Dậu (1561) đời Mạc Phúc nguyên năm thứ 9″ ghi: Người và các quan, tướng, thân vương nhà Mạc mua 25 mẫu, 8 sào, 2 thước cúng vào tam bảo, cho dân Hòa Liễu thụ hưởng, trên bia đá còn ghi việc sử dụng, Có lẽ sau nhiều thời gian số vật chất được tích lũy lớn, dân làng Liễu nhớ công ơn đã lập miếu bên cạnh chùa tạc tượng thờ Người cùng với nhiều đồ thờ được sơn son thếp vàng. Ngoài ra Ngưòi còn hưng công xây, sửa 16 chùa ở Bắc bộ( 1) người được dân gian tôn là “ Mẫu nghi thiên hạ – là Phật sống trên trần gian”

Thế kỷ XX có bà Ngô Thị Dĩnh (? – 1963) hậu duệ cụ Ngô Duy Nhất lấy chồng ng¬ười Pháp tên Việt là Nguyễn Di Đăng làm Giám đốc Đài thiên văn Phù Liễn, Kiến An, năm 1936 – 1938 đã sửa chùa Thiên Phúc, dựng chợ Phủ, năm 1945 dân làng đói bà đem tiền, gạo về phát chẩn. Ôi !buồn thay đào hoa bạc mệnh, về già bà sống cô quả, lúc  thác các cháu không quan tâm đến nay không rõ mả ở đâu? Đây có phải là phép thử lòng người trước bạc tiền và nhân nghĩa chăng?

Ta có thể ngược dòng lịch sử thấy cách đây khoảng 200 năm làng ta dân số có thể không quá 600 người? theo gia phả các họ ta thấy các đời suất đinh mỗi họ không quá 20 mà dựng lên ba đình: Cả, Tân, Phúc. Từ lâu người làng ta không có người thành đạt về Văn, Võ đến hoạt động kinh doanh…vì sao? Câu hỏi này dành cho tất cả chúng ta cùng giải đáp.

Những di vật cổ ở làng Trà:

Việc con người và thời gian phá hủy các công trình mang tính tâm linh chúng ta đã chứng kiến, Miếu thờ Đại Vương Linh Quy bị Tây bắn sập những người dỡ lấy vật liệu, hậu duệ bị bệnh không bình thường và chết bí hiểm? Ta nên đặt hiện tượng này ra khỏi vòng mê tín dị đoan mà xét.

Sau năm 1592 nhà Lê – Trịnh đã đưa hơn 1000 quân trong 100 ngày tàn phá hết công trình kiến trúc của triều Mạc ở Dương Kinh trong đó làng Trà. Cách đây khoảng 20 năm tôi được một người ở Hà Tây cho xem bản đồ về đất Dương Kinh, trong đó có làng ta. Lúc ấy thật vô tâm nay nghĩ lại so vói những tài liệu thu được qua nghe lại các vị cao niên ở làng thấy có nhiều điều đúng với bản đồ ấy, đó là các di tích, danh nhân lịch sử của làng:

1/ Miếu  Đại Vương Linh Quy.

2/ Thái Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toản là Thái Hoàng Thái Hậu đầu triều Mạc, những giai thoại về “Cổ trai Đế Vương Trà Phương Công Chúa”

Những di vật trong lòng đất:

Năm 1897 người họ Ngô Duy đào được một hòm vàng ở sân đình Cả.

Năm 1938 khi táng người mất tại khu ®èng Vu«ng gần bÕn ®ß sang Tó §«i đào được một mũ cánh chuồn có nhiều chi tiết bằng vàng.

Năm 1974 tại gốc cây đề khu đình Cả đào được 120 thỏi bạc. Gia đình ông Tống đào đựơc rất nhiều bạc nén, cổ vật, gạch vồ thời Mạc…

Vào những năm 2000 tại khu vực ông Lô đang ở đào được 1 lọ đựng một khối bạc cao 25cm đường kính 12 cm, ông Đạo đào được 10  chĩnh, mỗi chĩnh chứa 58 kg tiền cổ. Trước đó họ Ngô Trọng sửa mộ cũng đào được 4 chĩnh, mỗi chĩnh chứa 58 kg tiền cổ.

Năm 2010 ông Lô khi sửa miếu đào được một chĩnh chứa đầy tiền cổ…

Năm 2011 ông Tuấn mò ở ao Đình thấy một pho tượng đạo sĩ và một bát hương cổ bằng đất nung hình dạng rất khác so với vật cùng công nang hiện nay, còn nhiều cổ vật chưa được dân làng công bố?

Độ sâu khoảng 1m ông Lô đào thấy những đá tảng đường kính 56 cm, nhiều con giống có hoa văn giống như đào thấy ở hoàng thành Thăng Long.

Nơi có nhiều tiền, bạc, dấu tích của kiến trúc cung đình, cùng với dòng kênh sâu khoảng 2m rộng hơn 10m, dài hơn 200m bao quanh khu này.

Có phải nơi đây là dinh thự của gia đình Thái Hoàng Thái Hậu ở đã bị nhà Lê – Trịnh sau năm 1592 tàn phá và triệt mạch theo lịch sử ghi lại?

Thông tin trên bản đồ cho biết một số ao, vườn hoang… nhà Mạc có chôn cất của cải trước năm 1592 để rút lên Cao Bằng. Đặc biệt nói về giếng cổ ở phía Đông Bắc đình Cả, ông Tống xác nhận đã gặp khi đào đất ở đó ở độ sâu khoảng 1m, giếng được ghép bằng gạch vồ đường kính 1,5 m, sâu còn 2m đáy ghép bằng hai viên gạch nung 70 x 50 x 15 cm . Ông Khanh, ông Tuất xác nhận có thấy 1 tấm bia ở long tát nước cạnh ao đình Cả …

Do vậy với những di vật trong lòng đất làng ta và lòng yêu quê hương

Tôi đề nghị chính quyền địa phương cùng phối hợp với dân tìm và khai quật bia, giếng cổ và khảo cứu một số di vật trên để thêm vật chứng để Hội đồng Mạc tộc ViệtNam có cơ sở đề xuất với các cơ quan nhà nước tổ

chức hội thảo về dấu tích liên quan đến nhà Mạc. Nhằm mục đích phục dựng các di tích liên quan đến nhà Mạc một cách bài bản và xứng tầm của nó.

Tôi mong Hội đồng Mạc tộc Việt nam hãy quan đến vùng đất Tổ ngoại của Vương triều Mạc làm cho nó xứng danh với “Cổ Trai Đế Vương”?

Văn tế đình Cả và việc phục dựng đình

Bài văn tế đình Cả có trước 1945 và Khảo cứu địa danh của nhà Nguyễn năm 1938, Tôi khẳng định: “Đình Trà Phương một công trình văn hóa thời nhà Mạc nơi thờ phụng ba thành hoàng làng là: Thiên thần Vọng Hào, Thái Thượng Hoàng Mạc Đăng Dung và Thái Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toản, còn tế các linh vị: Đại Vương Linh Quy, ông bà nội, ngoại, cha mẹ của Thái Hoàng Thái Hậu, các tướng, thân vương nhà Mạc, linh vị của các họ trong làng. Đây là công trình văn hóa tâm linh thờ Thiên Thần, Vua và Hoàng Hậu, khác hẳn với đình làng ở quanh vùng chỉ thờ nhân thần hoặc vật thần. Đình xưa vị trí địa linh đã tồn tại hơn nghìn năm, Đình ngày nay làng dựng lại theo kiến trúc xưa, nhưng công năng của đình chúng ta cần nhận thức mới là: nơi thờ Thành Hoàng trong hậu cung, còn phía trước có thể sử dụng cho văn phòng của trường học, cho việc công của làng, xã. Đâu cần phải di chuyển trường vì trường học mới là việc công lớn trồng người, có đình sẽ nâng cao dân khí, dân trí Được vậy sẽ phát huy hiệu quả cao nhất công năng của đình, tiết kiệm được quỹ đất đang ngày càng bị thu hẹp liệu có hay không?

Việc phục dựng đình phải dựa trên cơ sở khoa học, vị trí vào nơi linh địa, hướng cửa và số đo ra sao, quy mô, đình xưa kiến trúc như thế nào? Phải có sự tham gia của các nhà sử học, kiến trúc sư, của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, được sự đồng thuận cao của dân làng, lập DA theo quy định, đặc biệt là phải có sự  tham gia của Hội đồng Mạc tộc ViệtNamvì đây là nơi thờ phụng  Mạc Thái Tổ và Thái Hoàng Thái Hậu

đầu triều Mạc thì mới hội tụ được chất xám… và tài chính để dựng đình.

Nếu huy động được một số tiền rồi xây móng, tạo tiền đề “ có thực sẽ vực được đạo” rồi tiếp tục quyên góp, e rằng đình sẽ ra sao?  Chúng ta không thể nóng vội, vì đây là công trình văn hóa để đời, tạo không hơn

đình xưa, lại vào nơi không linh địa có thể đem lại những điều không lành cho dân làng? Cho nên chọn nơi dựng đình và hướng đình là tối quan trọng không thể làm bừa theo ý một số người, mà phải có cơ sở khoa học, tụ được linh khí, thì mới thu phục được nhân tâm. Nếu không mọi việc đều ngược lại?

Tôi xin hiến kế với chi bộ Đảng và làng v/v phục dựng đình và di tích lịch sử:

1- Chi bộ Đảng phải nắm vai trò lãnh đạo, tiền fong gương mẫu. Củng cố ngay các tổ chức xã hội, đặc biệt người đứng đầu các tổ chức phải có Tâm, có năng lực uy tín với dân làng, quan hệ mật thiết với HĐ Mạc Tộc VN, trong việc vận động nhân dân cung cấp những tài liệu, cổ vật liên quan đến nhà Mạc để có cơ sở các cơ quan chức năng hội thảo, khai quật các di chỉ,tiến tới phục dựng đình làng và các di tích lịch  sử.

2 – Mọi người dân phải được bàn dân chủ, thống nhất ý trí, tạo nên khí thế và phong trào đóng góp trí tuệ và tài chính vào quỹ: “DA phục dựng đình làng Trà” không những ở làng mà còn ở bà con xa quê và Mạc Tộc VN.

3  – Khi lập được quỹ “DA phục dựng đình làng Trà”, phải mở tài khoản và thu chi theo quy định của pháp luật và minh bạch trước dân làng.

4/ Cùng với HĐ Mạc Tộc VN lập “ Ban QLDA phục dựng đình làng Trà” trình nhà nước duyệt.

Khi có DA các chi bộ cử ĐV trung thực tham gia Ban QLDA. Chỉ như vậy việc xây đình mới đạt được tiêu chí: Kiến trúc to đẹp, tiền nhân có nơi thờ phụng xứng danh, làm cho linh khí làng Trà ngày càng mạnh lên,

phù hộ cho hậu thế làng Trà phát triển sánh vai cùng thiên hạ.

Kính mong các quý vị tham khảo và bổ xung tài liệu để bài viết được tốt hơn. Trân trọng cám ơn, gửi đến lời chúc Phúc đến mọi người !

Trà Phương ngày 28/2/2011

Bài này được đăng trên Nuitraphuong.Blog. Nguyễn Công Kha, tháng 2/2011

1- PGS TS Đinh Khắc Thuần – Văn bia thời Mạc, Nhà xuất bản Hải Phòng, trang 48.

Điền địa thời Nhà Mạc và ruộng dải Yếm Bà Chúa làng Trà Phương

Tháng Mười Một năm Canh Dần bởi Nuitraphuong. Blog – Nguyen Cong Kha

Điền địa thời Nhà Mạc và ruộng dải Yếm Bà Chúa làng Trà Phương. Trước năm 1592 dân làng Trà lại được ân hưởng của Thái Hoàng Thái Hậu về đất đai, Người mua ruộng của nhà nước cho dân quê hương sử dụng không phải nộp thuế gồm: 2 mẫu 5 sào trước cửa chùa Hoà Liễu là bến đỗ thuyền của Người, theo thuyền Người về thăm Trà Phương quê nội, xuôi về quê chồng Cổ Trai, trên dòng ấy dài khoảng 10 km rộng khoảng 20 m và 3 mẫu ở bến thuyền Kỳ Sơn là đất dân làng Trà, diện tích ấy được cấy lúa, thu hoặch để làm quỹ phúc lợi. Dân gọi là ruộng dải Yếm Bà Chúa kéo từ “Thượng chí Tiên Cầm hạ chí Kỳ Sơn”. Dòng ấy bao giờ cũng sâu hơn hai bên vài chục cm, lúa cấy trên dòng ấy bao giờ cũng xanh tốt, đặc biệt gạo ăn thơm ngon hơn gạo ruộng cấy bên cạnh. Sau năm 1592 nhà Lê – Trịnh thắng nhà Mạc, vì tính tiểu nhân họ đã đưa hơn 1000 quân về Dương Kinh trong 100 ngày tàn phá hết công trình của triều Mạc, đồng thời họ đã thu ruộng dải Yếm Bà Chúa của làng Trà cho các làng lân cận cấy và bao nhiêu ruộng của Người cho làng Trà bị nhà Lê – Trịnh thu nay chưa biết được?

Khi nhà Nguyễn nắm quyền, Ngô Duy Nhất người làng Trà, được bố vợ chánh tổng Nguyễn Công Hậu giúp cho học đã thi đỗ, được làm quan trong triều nhà Nguyễn đã kiện lên vua Nguyễn về sự nhà Lê -Trịnh thu ruộng “dải Yếm Bà Chúa” của làng Trà. Sau nhiều năm tranh tụng nhà Nguyễn đã xử cho dân làng Trà được sử dụng ruộng dải Yếm Bà Chúa như thời nhà Mạc. Dân làng Trà trả ơn bằng cho gia đình ngài được sử dụng vĩnh viễn 3 mẫu ruộng ở làng Kỳ Sơn, còn diện tích 2 mẫu 5 sào cửa chùa Hoà Liễu và dòng dải Yếm Bà Chúa dân làng sử dụng như lệ thời nhà Mạc. Bây giờ dòng ấy đã bồi, chính thể mới cắt đất cho các làng bên sử dụng. Vào cuối thế kỷ XX dân làng Trà đều xác nhận đó là sự thật.

Thôn Hòa Liễu có chùa Thiên Phúc và miếu thờ Thái Hoàng Thái Hậu người con của làng Trà. Đây là di chỉ nhà Mạc với những tượng Phật bằng đá, đặc biệt tượng Thái Hoàng Thái Hậu ở miếu lại được tạc vào phần nổi của một phiến đá cao khoảng 3 m, còn một phần chôn xuống đất, xung quanh là giếng nước. Đây có thể là nơi Người tu theo đạo Phật. Bia còn tại đền thờ Người khắc “ngày 18 tháng 4, năm Tân Dậu (1561) đời Mạc Phúc nguyên năm thứ 9″ ghi: Người và các quan, tướng, thân vương nhà Mạc mua 25 mẫu, 8 sào, 2 thước cúng vào tam bảo, cho dân Hòa Liễu thụ hưởng, trên bia đá còn ghi việc sử dụng: 12 người làng Liễu cao tuổi nhất mỗi người được cấy 2 sào để lo việc hương đăng 24 tiết tại chùa và đền, 3 mẫu dành cho người phải đi lính khi nào giải ngũ thì trả lại ruộng làng, 1 mẫu 4 sào thủ đình cấy, 2 mẫu 5 sào dân làng Trà hưởng, còn lại phát canh thu hoa lợi làm quỹ của làng. Có lẽ sau nhiều thời gian số vật chất được tích lũy lớn, dân làng Liễu nhớ công ơn đã lập miếu bên cạnh chùa tạc tượng thờ Người cùng với nhiều đồ thờ được sơn son thếp vàng. Việc tậu ruộng, sử dụng hoa lợi cho công ích của Thái Hoàng Thái Hậu là vấn đề cần được nghiên cứu của các nhà sử học chân chính.

Tháng Mười Một 28, 2010 bởi nuitraphuong

Thái Hoàng Thái Hậu nhà Mạc Vũ Thị Ngọc Toàn
(3/20/2010 10:46:26 PM)

Thái Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toàn người làng Trà Hương huyện Nghi Dương xứ Hải Dương, nay là thôn Trà Phương, xã Thuỵ Hương, huyên Kiến Thụy Hải Phòng. Trước khi hợp tác xã nông nghiệp cải tạo đồng ruộng, làm lại bờ vùng, bờ thửa, nếu đứng về đỉnh núi Chè nhìn xuống cánh đồng Hương thấy rõ hình một gương tròn, một chiếc lược và con dao nhỏ. Thế đất ấy, theo các nhà phong thủy giải thích làng Trà Phương xưa thường sinh con gái có nhan sắc, đức hạnh. Thái Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toàn, vợ đích của vua khai sáng nhà Mạc là Mạc Đăng Dung. Câu đồng dao cổ: “Cổ trai Đế Vương, Trà Hương Công Chúa” chứng minh thuyết phong thủy trên.
Sử liệu chính thống hiện không có thông tin gì về bà, nhưng sử liệu điền dã và nhất là bia thời Mạc nói về bà rất nhiều. Hai nguồn sử liệu này đều thống nhất ca tụng vị Thái Hoàng Thái Hậu này “là bậc thánh mẫu của thánh triều, chính vị Đông trào, hóa thành nam quốc, sánh đức thánh thiện Đồ Sơn (nhà Hạ)” (Văn bia ghi việc trung tu chùa Bảo Lâm xã Trâu Bộ huyện Giáp Sơn). Dân vùng Kiến Thụy, An Lão nay còn truyền dải đất ven đầm từ trang Tiên Cầm đến Kỳ Sơn tục gọi là giải yếm bà Chúa là ruộng Thái Hoàng Thái Hậu ban cho dân Trà Phương. Riêng về việc bà đứng hưng công xây mới, sửa chữa chùa chiền, cầu quán, chợ búa còn khá nhiều như chùa Sùng Quang xã Do Nghi huyện Vĩnh Lại, chùa Thánh Thọ xã Hoàng Trạch huyện Cẩm Bình, chùa Sùng Ân xã Thọ Lão huyện Phù Tiên, chùa Bảo Thúc xã Thái Khê huyện Yên Hưng, chùa Bảo Lâm xã Trâu Bộ huyện Giáp Sơn, chùa Báo Ân xã An Chiểu huyện Phù Tiên, chùa Phổ Chiếu xã Văn Lan nay là thôn Văn Hòa, chùa Bà Đanh nay là Thiên Phúc Tự, xã Trà Hương nay là thôn Trà Phương, chùa Trúc Am thôn Du Lễ đều thuộc huyện Kiến Thụy; chùa Hà Lâu xã Đông Minh nay là thôn Đông Ninh, chùa Minh Phúc và cầu Quán ở xã Cẩm Khê nay là thôn Cẩm Khê đều thuộc huyện Tiên Lãng.
Số tiền, ruộng bà cúng cho các nhà chùa không nhiều, nơi ít nhất là 10 quan tiền như chùa Báo Ân xã An Chiểu, nơi nhiều nhất là chùa, cầu, quán xã Cẩm Khê do bà hưng công, sau lại mua cho xã 5 mẫu ruộng trị giá 120 lạng bạc.

Riêng chùa Bà Đanh ở quê, bà cũng chỉ cúng có 1 mẫu 9 sào ruộng, nhưng ruộng “dải yếm bà Chúa diện tích rất lớn kéo dài từ Thượng trí Tiên Cấm Hạ chí Kỳ Sơn. Sự hay của dải đất này là theo hướng Bắc Nam thì ruộng bắt đầu từ cửa chùa Thiên Phuc làng Hoà Liễu ruộng có diện tích 2,5 mẫu, dải yếm uốn lượn lên phía Bắc khoảng vài trăm mét thuộc địa phận thôn Tiên Cầm rồi lại uốn xuống làng Liễu xuôi về làng Trà dải ấy lại rộng thành đầm diện tích hàng ngàn mẫu ruộng và tiếp uốn lượn xuống phía Nam đến làng Kỳ Sơn và lại uốn lên phía Bắc khoảng vài trăm mét đến cửa chùa Ngọc kết thúc là diện tích 3 mẫu ở cửa chùa này. Như vậy diện tích dải Yếm này dài khoảng hơn 10 km, rộng 20m, đầu phía bắc diện tích là 2,5 mẫu, đoạn giữa thuộc địa phận Trà Phương rộng hàng ngàn mẫu chính là đầm cửa chùa Thiên Phúc kết thúc, là 3 mẫu ruộng cửa chùa Ngọc. Nếu ta nghiên cứu sẽ thấy sự kỳ diệu của ruộng dải yếm bà Chúa về hình thể uốn lượncũng như diện tích của nó.
Nhưng những nơi bà có tham gia đóng góp dù ít dù nhiều đều thấy có nhiều hoàng thân, quốc thích, đại thần văn võ tham gia đóng góp.
Có thể nói Thái Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toàn có công với việc bảo vệ di sản văn hóa dân tộc.

(Theo Văn bia thời Mạc Địa chí Hải Phòng. Hồ sơ di tích của Bảo tàng Hải Dương, tư liệu điền dã)

Chùa Thiên Phúc làng Trà Phương

Chùa Thiên Phúc tại Trà Phương tên cổ là Bà Đanh Tự được Thái Hoàng Thái Hậu nhà Mạc cùng cháu là Khiêm Vương Mạc Kính Điển, hơn chục công chúa, thân Vương và quan tướng hưng công xây dựng, văn bia dựng ngày 26 tháng 8 năm Thuần phúc sơ niên (1565) ghi:

“Thái Hoàng Thái Hậu

Khiêm Thái Vương cúng 10 lạng bạc. Lị Vương, Thuận Vương cúng 5 lạng bạc. Vinh Quốc thái phu nhân 9 lạng 5 tiền. Tĩnh quốc thái phu nhân 10 lạng. Bảo gia thái trưởng công chúa tiền 10 quan. Phúc Nghi thái trưởng công chúa 1 lạng 8 tiền. Thọ Phương thái trưởng công chúa 2 lạng 8 tiền. Phúc thành thái trưởng công chúa. Sùng Quốc công 5 lạng. Văn Quốc công 9 lạng 5 tiền Ninh Quốc công 2 lạng, Triều Quận công 1 lạng. Phú Quận công 1 lạng. Trịnh Quận công gỗ lim 2 cây. Ngạn Quận công 1 lạng. Khang Quận công 1 lạng. An Quận công 1 lạng, khuyên tai 1 đôi . Vị Quận công 1 lạng, khuyên tai 1 đôi . Dương Quận công 1 lạng. Tuy Quận công 1 lạng, Thanh Uy hầu 1 lạng. Dựng bia ngày 26 tháng 8, năm Thuần phúc sơ niên 1565. Ruộng tín thí:
Ngày 8 tháng 10 nhuận năm Bính Dần, Thái Hoàng Thái Hậu có ruộng của bản điện được cấp và mua mới tất cả là 1 mẫu 9 sào cúng vào chùa Bà Đanh làm của Tam Bảo. Kê: Một mảnh xứ Ngoại Tổ Cội 1 mẫu 9 sào tại xã Lan Ổ, huyện An Lão: Phía Đông gần ruộng của cố Hương La hầu Vũ Trụ, Tây gần ruộng An Lộc bá Vũ Du Mỹ, Nam gần chằm, bắc gần đường. Phần trên có bia ruộng cúng tiến làm của Tam Bảo, giao cho chùa để tiện cày cấy và khói hương thờ Thánh. Nếu ai mai táng lên ruộng, phá hoại ruộng di chuyển bia ruộng đều bị chư Phật chiếu xét, tru di ba đời. Nay thề nguyện”.(1)

Năm 1936-1938 Ngô Thị Dĩnh người làng Trà cùng chồng(người Pháp) là giám đốc Đài thiên văn Phù Liễn hưng công xây lại, gần đây hòa thượng Thích Quảng Mẫn người từ nhỏ tu ở chùa này đã sửa chữa nên chùa càng ngày càng đẹp hơn xưa.

Chùa có nhiều hiện vật thuộc văn hoá thời nhà Mạc, nhà Nguyễn, hệ thống t­uợng Phật đ­ược tạc khắc rất tinh sảo, đặc biệt có hai pho t­ượng đá xanh tạc Hoàng đế Mạc Đăng Dung và Thái Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toàn thờ ở bên phải, bên trái thờ Tam toà Thánh Mẫu. Phía Đông là nhà thờ tổ có nhiều tượng trong đó có một tượng đá chưa rõ danh tính, tượng vị quan nhà Mạc và ông Tây chồng bà Rĩnh có công xây chùa.

Văn bia thời Mạc đã ghi: Thái Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toàn hưng công xây mới, sửa chữa chùa, cầu quán, chợ còn khá nhiều như chùa Sùng Quang xã Do Nghi huyện Vĩnh Lại, chùa Thánh Thọ xã Hoàng Trạch huyện Cẩm Bình, chùa Sùng Ân xã Thọ Lão huyện Phù Tiên, chùa Bảo Thúc xã Thái Khê huyện Yên Hưng, chùa Bảo Lâm xã Trâu Bộ huyện Giáp Sơn, chùa Báo Ân xã An Chiểu huyện Phù Tiên, chùa Phổ Chiếu xã Văn Lan nay là thôn Văn Hòa, chùa Bà Đanh nay là Thiên Phúc Tự, thôn Trà Phương, chùa Trúc Am thôn Du Lễ đều thuộc huyện Kiến Thụy; chùa Hà Lâu xã Đông Minh nay là thôn Đông Ninh, chùa Minh Phúc và cầu Quán ở xã Cẩm Khê nay là thôn Cẩm Khê đều thuộc huyện Tiên Lãng.
Số ruộng Người cúng trên 30 mẫu, vàng 6000 lá cùng nhiều tiền, gỗ cho cho các chùa ở Bắc Bộ, nơi ít nhất là 10 quan tiền như chùa Báo Ân xã An Chiểu, nơi nhiều nhất là chùa, cầu, quán xã Cẩm Khê do Người hưng công, sau lại mua cho xã 5 mẫu ruộng trị giá 120 lạng bạc.

Riêng chùa Bà Đanh ở bản quán, Người cúng có 1 mẫu 9 sào ruộng, nhưng dải đất từ trang Tiên Cầm đến Kỳ Sơn tục gọi là “giải yếm bà Chúa” là ruộng Thái Hoàng Thái Hậu ban cho dân Trà Phương diện tích từ thượng chí Tiên Cầm hạ chí Kỳ Sơn. Sự hay của dải đất này là theo hướng Bắc Nam, bắt đầu dải yếm là ruộng có diện tích 2,5 mẫu ở cửa chùa Thiên Phúc làng Hoà Liễu, uốn lượn lên phía Bắc khoảng vài trăm mét thuộc địa phận thôn Tiên Cầm rồi lại uốn xuống làng Liễu xuôi về làng Trà dải ấy lại rộng thành đầm diện tích hàng ngàn mẫu ruộng, tiếp uốn lượn xuống phía Nam qua Đồng Lá đến làng Kỳ Sơn, lại uốn lên phía Bắc khoảng vài trăm mét kết thúc là diện tích 3 mẫu ở cửa cửa chùa Ngọc. Như vậy diện tích dải Yếm này dài khoảng gần 10 km, rộng hơn 20m, đầu phía bắc diện tích là 2,5 mẫu, đoạn giữa thuộc địa phận Trà Phương rộng hàng ngàn mẫu là đầm cửa chùa Thiên Phúc kết thúc là 3 mẫu ruộng cửa chùa Ngọc. Nếu ta nghiên cứu sẽ thấy sự kỳ diệu của “ruộng dải yếm bà Chúa” về hình thể uốn lượn cũng như diện tích của nó. Thái Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toàn có công với việc bảo vệ di sản văn hóa dân tộc. Nên phật  tử đương thời đã suy tôn Người là: Mẫu nghi thiên hạ, là vị phật sống trên trần gian” (2)

Nỗi buồn của tôi và hy vọng

Ngày 15 tháng Mùi hàng năm là ngày giỗ Thái Hoàng Thái Hậu nhà Mạc Vũ Thị Ngọc Toàn là người làng Trà. Ngày này năm Canh Dần tôi về cúng Người, lần đầu chưa hiểu hết được lễ nghi nhưng lòng thành hôm trước gửi các cụ chút tiền để sắm lễ, thấy vui vì mình đã biết đến Người.

Ngày này năm Tân Mão tôi về dâng Người: hương, hoa huệ, ngũ quả, thấy trên ban thờ có đĩa xôi lớn, gà luộc nguyên con, hai bình hoa đã úa, lòng tôi thấy buồn. Khoảng 11 giờ xuống dưới nhà tạo lễ thấy quan viên trong làng đã dùng bữa cơm chay đang ra về, vào trong nhà tổ thấy nhà sư không rõ pháp danh đang lớn tiếng mắng các già: về sắm lễ không đúng, mà phải sắm một mâm cúng mặn, thịt phải thái chứ không được để nguyên miếng ai mà hưởng được…, lời lẽ nặng nề, các già hai tay chắp một điều con, hai điều con thật là tội nghiệp, lại thêm buồn. Những phật tử là nông dân nhờ cụ Hồ xóa nạn mù chữ mà biết chữ, kinh sách ai dạy đến nơi đến chốn? lại nghèo nên lễ nghi chắc không thể bài bản?

Căn cứ vào lịch sử thì: Năm 1541 vua Mạc Đăng Dung qua đời Thái Hoàng Thái Hậu quy theo đạo Phật, nhiều nguồn sử liệu đều thống nhất ca tụng Thái Hoàng Thái Hậu “là bậc thánh mẫu của thánh triều, chính vị Đông trào, hóa thành Nam quốc, sánh đức thánh thiện Đồ Sơn – nhà Hạ” (Văn bia thời Mạc ghi việc trung tu chùa Bảo Lâm xã Trâu Bộ huyện Giáp Sơn).

Như vậy người đã theo đạo Phật cho nên giỗ Người phải theo đạo Phật chứ không thể cúng mặn? Việc giỗ Người nhà sư nên cùng dân làng lo lễ giỗ có lẽ phải đạo. Vì chắc về tuổi và công lao đức độ của Người còn hơn nhiều người đang bước vào cõi tu hành. Lòng tôi mong rằng chùa làng Trà sẽ có nhà Sư (bậc Chính Đẳng Chính Giác, người giáo hóa chúng sinh về những điều mình chứng ngộ), để giáo hoá dân làng Trà mau giác ngộ  Đạo Phật để tu thân, hiểu nguồn gốc của chùa làng để bảo vệ, tu bổ… cho xứng với công lao của các bậc tiền nhân với danh thắng của xứ Đông.

Lòng riêng tôi kính yêu Thái Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toàn vì công lao, đức độ của Người đối với dân vùng Bắc Việt nói chung và làng ta nói riêng, xin gửi đến các tín chủ làng Trà vài điều tâm đắc, mong sao mọi chúng ta được đức Phật soi sáng trong cõi đời này, nếu có gì không đúng xin được các phật tử lượng thứ.

Đình Trà phương nơi thờ Thái Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toàn và Hoàng Đế Mạc Đăng Dung biết bao giờ mới được phục dựng để thờ phụng cho xứng với công lao của Người?

(1) trang 190, (2) trang 48 – Văn bia thời Mạc – PGS.TS Đinh Khắc Thuần.

Đăng tải tại Uncategorized | 2 bình luận